Home Những bài văn hay lớp 9 [Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Dàn ý chi tiết

1.

Hướng dẫn

Mở bài

Giới thiệu tác giả:

+ Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Nhuệ Duy, sinh ra ở Thanh Hóa, Ông gia nhập quân đội từ năm 1966, đi suốt hành trình chiến đấu và chiến thắng kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của quân và dân ta.         

+  Thơ của Nguyễn Duy hồn nhiên, dung dị, trong sáng trong từng câu chữ;  Ông được coi là một cây bút tài hoa không chỉ bởi ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ sáng tạo, gợi cảm – một vẻ đẹp chân quê mà thơ ông nhiều bài còn có cái ngang tàng nhưng vẫn trầm tĩnh và giàu chiêm nghiệm.

Giới thiệu tác phẩm:

+ Ánh trăng là tác phẩm hay và nổi bật của tác giả Nguyễn Duy bởi nét thực, ngôn từ trong sáng và giản dị.

2. Thân bài

2.1. Hình ảnh vầng trăng tình nghĩa

“ Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”

+ Vầng trăng đã đồng hành cùng với tác hỉa từ lúc “hồi nhỏ” (tuổi thơ); “hồi chiên tranh” (lúc đi lính) => những từ ngữ gợi tả làm nổi bật sự gắn bó giữa tác giả và ánh trăng

Người và trăng trở thành đôi bạn thân thiết

“ Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

+  Người ta cứ tưởng rằng trăng và người chính là đôi bạn thân thiết. Và tình cảm ấy sẽ không bao giờ rạng nứt.

2.2. Trăng bỗng trở thành người dưng

“ Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”

+ từ lúc rời xa thôn quê ấy, về vơi thành phố xa hoa tráng lệ có “ánh điện cửa gương” mà dần quên “vầng trăng” tri kỉ ngày nào. Với nghệ thuật ẩn dụ các chi tiết ấy như bộc lộ cả một bầu tâm sự của Nguyễn Duy.

“ Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn – đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn”

+  Sử dụng động từ “vội” làm người ta bất chợt nhớ về một điều gì đó của quá khứ. Nguyễn Duy bỗng nhớ về người bạn tri kỉ năm xưa là “vầng trăng tròn”

2.3. Vầng trăng nhắc nhở nghĩa tình

“ Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng”

+  với nghệ thuật nhân hóa Nguyễn Duy đã giúp hình ảnh đối mặt giữa trăng và người trở nên chân thật hơn, sống động hơn

+ bên cạnh đó tác giả còn sử dụng nghệ thuật so sánh và điệp ngữ làm cho mạch cảm xúc năm xưa như ùa về, làm người lính năm nào rưng rưng xúc động.

“ Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

+ Dù thời gian có đổi thay, nhưng tình nghĩa giữa trăng và người mãi mãi trường tồn, mãi mãi khắng khít.

Xem thêm:  Phân tích hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ trong Hoàng Lê nhất thống chí

=> Tình cảm thiêng liêng và bất diệt, mãi mãi tồn tại qua thời gian.

3. Kết bài

Giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm; nghệ thuật nhân hóa, so sánh, biểu cảm.

Khắc họa một vẻ đẹp của người lính sâu sắc nghĩa tình và thủy chung.

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Phân tích bài thơ Ánh trăng

Bài văn tham khảo

“Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Không bán đoàn viên ước hẹn hò”

Ngay từ xưa, hình ảnh vần trăng đã đi sâu vào thơ ca như vậy ấy. Và một trong những tác giả xem trăng là bạn ngoài Hàn Mặc Tử thì không thể không nhắc đến Nguyễn Duy. Nguyễn Duy là nhà thơ tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Thơ của ông với giọng điệu hồn nhiên trong sáng đã chiếm được rất nhiều tình cảm từ độc giả. Bài thơ nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Duy là bài “Ánh trăng” được viết năm 1978. Bài thơ là một thông điệp ý nghĩa về thái độ sống “uống nước nhơ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

Đề tài về trăng đã khá quen thuộc về người đọc, vì ánh trăng cùng với lũy tre làng là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại. Trong thơ Hàn Mặc Tử trăng là bạn nhưng cúng đại diện cho sự đau đớn trong căm bệnh quái ác mà Hàn Mặc Tử mang trong người lúc ấy. Còn với thơ của Nguyễn Duy thì sao? Ông xem trăng là người bạn tâm giao, là người “anh em” tri kỉ cả tuổi thơ lẫn nơi chiến trường đầy ác liệt. Mượn hình ảnh gắn bó với thủy chung với trăng mà nhắc nhở thái đọ sống “uống nước nhớ nguồn” của bao thế hệ.

Hình ảnh vầng trăng mở đầu bài thơ là vầng trăng tình nghĩa, là người bạn đồng hành với tác giả trong mỗi cột mốc quan trọng của cuộc đời.

“ Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”

Cụm từ “hồi nhỏ” là từ ngữ gợi tả về quá khứ của tác giả. Nơi thôn quê ngày ấy thiếu ánh đèn điện, chỉ có mỗi vầng trăng là soi sáng. Trăng soi sáng con đường làng và soi sáng cả những ước mơ của trẻ nhỏ. Đến khi lớn lên đã là người lính thì “hồi chiến tranh ở rừng” vầng trăng cũng trở thành người bạn tri kỉ, tâm giao? Thử hỏi trên cuộc đời này liệu có mấy ai gắn bó sâu đậm và bền lâu như thế? Từ lúc còn nhỏ đến khi tham gia kháng chiến. Trăng ở nơi rùng núi ấy, trong những năm tháng kháng chiến khốc liệt ấy đã tiếp thêm tình nghĩa và sức mạnh vô bờ cho những người lính trẻ. Những dòng thơ cứ nối tiếp nhau nhưng đặc biệt chữ cái mỗi dòng lại không viết hoa, điều ấy như chính là nét đặc biệt trong bài thơ Ánh trăng. Nó như là mạch cảm xúc cứ thế mà tuôn trào tuôn trào trong lòng tác giả.

Xem thêm:  Cảm nhận về chi tiết bát cháo hành mà nhân vật Thị Nở mang cho Chí Phèo và chi tiết ấm nước đầy và hãy còn ấm mà nhân vật Từ dành sẵn cho Hộ

Tình bạn cảm động ấy ngỡ là sẽ mãi mãi trường tồn mãi mãi khắc ghi. Một tình bạn luôn vì nhau không vụ lợi ấy thật sự cảm động

“ Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

với việc sử dụng ngôn từ giản dị dễ hiểu đã làm cho người đọc người nghe dễ dành tưởng tượng. Cụm từ “trần trụi” đã phần nào miêu tả được tính cách của vần trăng. Một tính cách giản dị bộc trực không khoa trương đó cũng như là tính cách của tác giả Nguyễn Duy. Tình cảm gắn bó mà cả hai dành cho nhau “ngỡ không bao giờ quên”. Liệu có phải như thế không? Vì nhiều người vẫn nghĩ như thế, trăng và người đúng là hai người bạn tri kỉ, thân thiết không bao giờ rạn nứt.

Thời gian thay đổi thì vạn vật trên thới gian này cũng sẽ thay đổi kể cả lòng người. Bỗng dưng trăng và người trở thành người dưng, nước lã

“ Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”

Nếu hồi ở rừng tác giả quen với sông, với bể thì từ lúc về thành phố đã quen “ánh điện”, “cửa gương”. Ánh điện cửa gương là những thứ đại diện cho cuộc sống đầy đủ, sung túc và xoa hoa nơi đô thành. Chính cuộc sống đầy đủ tiện nghi ấy đã làm tác giả Nguyễn Duy quên đi người bạn năm xưa chia ngọt sẽ bùi. “Vần trăng” là đại diện cho kỉ niệm năm xưa từ thuở nhỏ đến khi ra chiến trường, đại diện cho những năm tháng gian lao khó nhọc. Vậy mà giờ đây “như người dưng qua đường”. Liệu rằng con người chúng ta đã sống quá hững hờ, quá vô tâm? Nguyễn Duy như muốn nhấn mạnh sự vô tâm của con người trong đó có tác giả hay chăng?

Nhưng cuộc đời vốn không phải lúc nào cũng màu hồng! Sẽ có lúc như này như thế khác, lúc có ánh đèn điện sẽ quên mất sự hiện diện của ánh trăng kia, nhưng khi mất ánh đèn ấy thì sao:

“ Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn – đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn”

Mãi đến khi “thình lình đèn điện tắt” thì tác giả mới vội vàng chợt nhớ về người bạn tri kỉ năm xưa. Điều đó có phải quá bất công và tàn nhẫn với ánh trăng hay chăng? Dẫu con người có quên đi ánh trăng nhưng ánh trăng mãi mãi không bao giờ quên tình nghĩa với con người. Đó là một điều tuyệt đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta. Động từ “vội” được Nguyễn Duy miêu tả rất đắc, nó hiện ra đúng lúc đúng chỗ và trở nên ý nghĩa trong dòng thơ. Từ đó làm nổi bật người ban tri kỉ năm xưa của Nguyễn Duy.

Xem thêm:  Em hãy viết bài văn tả lại khu vườn nhà em

Vẫn là ánh trăng ngày ấy, vẫn hình bóng ấy đã nhắc nhở con người ta rất nhiều về tình nghĩa về lối sông uống nước nhớ nguồn

“ Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng”

Với nghệ thuật nhân hóa, Nguyễn Duy đã miêu tả lại một cuộc gặp mặt tình cờ đầy xúc động. Gặp lại người bạn thuở thơ ấu, người bạn từng kề vai sát cánh nơi chiến trường đầy gian khổ. Vậy mà bấy lâu nay về với thành phố hoa lệ mà lãng quên tình bạn khắc cốt ghi tâm này. Nhưng một khi trong lòng đã có nhau thì dẫu có lạc nhau vẫn tìm về bên nhau. Tình bạn cuat Nguyễn Duy và vầng trăng cũng như thế, cũng quay về bên nhau cùng nhau hàn huyên ôn lại kỉ niệm năm xưa.

Khổ cuối bài thơ Nguyễn Duy đã làm cho nhười ta xúc động và tự thổ với lòng về ánh trăng nghĩa tình mãi mãi như thế, mãi mãi trường tồn theo năm tháng:

“ Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

Với việc sử dụng từ láy “vành vạnh” đủ để Nguyễn Duy nhấn mạnh sự thủy chung của ánh trăng. Ánh trăng ấy có đủ lòng bao dung và vị tha cho sự vô tâm và ích kỉ của con người? Với tấm lòng bao dung và vị tha ấy “đủ cho ta giật mình”. Từ “giật mình” như muốn nhấn mạnh sự hổ thẹn của con người trước thiên nhiên. Điều đó như muốn nhắc nhở chúng ta sống có trách nhiệm hơn, tình nghĩa hơn cho dù thời gian có thay đỏi, vạn vật có đổi thay thì ánh trăng và con người mãi mãi là những người bạn khắc cốt ghi tâm!

Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy đã amng đến cho người đọc những cảm xúc khó tả về tình nghĩa thủy chung. Với việc sử dụng nghệ thuật nhân hóa, ngôn từ giản dị, hình ảnh giàu biểu cảm,… đã tạo nên những dòng tâm tình ý nghĩa. Bài thơ như một lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao thời kháng chiến  mà người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước, bình dị hiền hậu. Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Duy còn muốn gửi gắm thông điệp về thái độ sống con người: “uống nước nhơ nguồn”, phải ân nghĩa thủy chung cùng qua khứ.

Ngọc Như

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment