Home Những bài văn hay lớp 12 [Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Dàn ý chi tiết.

1.

Hướng dẫn

Mở bài.

_Giới thiệu vấn đề nghị luận: Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng.

2. Thân bài.

2.1. Luận điểm 1: Khái quát về tác giả, tác phẩm.

Tác giả Quang Dũng.

_tham gia kháng chiến chống Pháp và là người chiến sĩ cách mạng giàu nhiệt huyết.

_người nghệ sĩ đa tài với khả năng vẽ tranh, viết nhạc, sáng tác thơ…

_hồn thơ Quang Dũng lãng mạn.

Bài thơ “Tây Tiến”.

_“Tây Tiến” là tên đơn vị bộ đội được thành lập vào năm 1947 với nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt Lào.

_được viết tại Phù Lưu Chanh vào năm 1948, sau khi Quang Dũng được chuyển sang đơn vị khác.

_Tên ban đầu là “Nhớ Tây Tiến”, sau đó được tác giả đổi thành “Tây Tiến”.

2.2. Luận điểm 2: Chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến trên nền thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội.( Khổ 1).

_Bốn câu đầu: nỗi nhớ bao trùm trong nhà thơ.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

+đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi. Nghệ thuật liệt kế làm sáng rõ những kí ức trogn nhà thơ, từ những địa danh cụ thể cho đến những địa danh không tên.

+ nhớ chơi vơi: nỗi nhớ trong hoài niệm.

+Sài Khao, Mường Lát: địa bàn chiến đấu của đoàn quân.

_Bốn câu sau: thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất đỗi trữ tình, thơ mộng.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

 Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

+từ láy “khúc khuỷu, thăm thẳm” diễn tả sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc với núi cao, vực sâu.

+sử dụng nhiều thanh trắc mạnh, chắc khỏe.

+Hình ảnh nhân hóa độc đáo “súng ngửi trời” đã cho thấy chí khí của người lính, hồn nhiên, tinh nghịch.

+điệp từ “ngàn thước”, từ đối lập “lên cao, xuống thấp”, làm nhịp thơ thêm mạnh mẽ để để diễn tả những gian lao, hiểm nguy mà người chiến binh phải đối mặt.

+lãng mạn, thơ mộng với “mưa xa khơi”, câu thơ sử dụng toàn thanh bằng làm dịu đi cả câu thơ.

_Sáu câu cuối: hình ảnh người lính bi tráng trên thiên nhiên khắc nghiệt.

Anh bạn dãi dầu không biết nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

+người chiến binh Tây Tiến vượt lên trên mọi gian khổ với vẻ đẹp bi tráng “không bước nữa, bỏ quên đời”.

+gian khổ được mở rộng ra ở cả mặt thời gian “chiều chiều, đêm đêm”.

+người lính Tây Tiến và tình quân dân nồng ấm “mùa em” đầy yêu thương, trìu mến.

2.3. Luận điểm 3: Kỉ niệm tuyệt đẹp về đêm liên hoan văn nghệ thắm tình quân dân và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.

_Bốn câu đầu là cảnh đêm liên hoan văn nghệ huyền ảo.

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

+đêm liên hoan văn nghệ diễn ra tại doanh trại bộ đội trong không khí tưng bừng, lạc quan “bừng lên hội đuốc hoa”.

+”hội đuốc hoa, nàng e ấp” gợi đến một lễ cưới.

+hình ảnh Viên Chăn- thủ đô của nước bạn Lào giúp người đọc hiểu được tinh thần chiến đấu, chí khí của các anh bộ đội ngay cả trong những phút giây thư giãn vẫn không quên nhiệm vụ.

_Bốn câu thơ sau tái hiện khung cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người bên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa.

+thời gian: buổi chiều sương tĩnh lặng.

+không gian: dòng sông với đôi bờ phơ phất hồn lau.

+ con người bên những chiếc thuyền độc mộc là những người thiếu nữ duyên dáng, mềm mại.

2.3. Luận điểm 3: Hình tượng người lính Tây Tiến.

_Lãng mạn và bi tráng qua dáng vẻ.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

+đoàn quân dị thường, lạ lẫm với mái đầu trọc, nước da xanh.

+ẩn dụ “dữ oai hùm” là ý chí và tinh thần chiến đấu của người lính Tây Tiến.

_Lãng mạn bi tráng qua đời sống tâm hồn.

+ “mắt trừng” đôi mắt mở to, cảnh giác nhìn quân thù với giấc mộng lập chiến công.

+giấc mơ về quê hương xứ sở, thủ đô nghìn năm văn hiến. Nỗi nhớ trở thành động lực để người chiến sĩ chiến đấu trên chiến trường.

_Tư thế lên đường vì lí tưởng, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

+”biên cương, mồ viễn xứ”: những từ Hán Việt được sử dụng với số lượng lớn làm giảm đi cảm giác đau thương trước những hi sinh của người lính.

+biết trước gian khổ nhưng không ngại lên đường vì lí tưởng.

+”đời xanh” là đời trẻ với nhiều hoài bão, hi vọng.

+”chẳng tiếc” là thái độ tự nguyện cống hiến cao đẹp.

_Sự hi sinh cao đẹp của người lính.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

+người lính sinh hoạt, chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn và cũng ra đi trong thiếu thốn.

+không có áo bào, không có manh chiếu bao thân, ra đi với chiếc áo lính.

+ “sông Mã” thay cho hình ảnh của cả quê hương, dân tộc tiễn đưa các anh về với đất mẹ.

+ “khúc độc hành” là khúc nhạc tiễn đưa người lính về với đất mẹ khi không có tiếng kèn niệm, không có khúc quân nhạc tiễn đưa.

2.4. Luận điểm 4: Khúc vĩ thanh của nỗi nhớ.

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy.

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

+”người đi” những người lính. Họ ra đi không hẹn ngày trở lại.

+tự nguyện gắn bó thể xác, linh hồn với chiến trường miền Tây gian khổ.

2.5. Luận điểm 5: Đánh giá nội dung, nghệ thuật.

_bài thơ sử dụng rất nhiều thủ pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh, các điệp từ, điệp ngữ, từ ngữ đối lập, liệt kê…

_Tất cả cùng làm nổi bật thiên nhiên Tây Bắc với nhiều hiểm trở. Nhưng vượt lên trên tất cả, những người chiến binh vẫn anh dũng, kiên cường và luôn sẵn sàng tinh thần, ý chí chiến đấu.

Xem thêm:  Suy nghĩ về câu nói: “Đoàn viên và Thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”

3. Kết bài.

Khẳng định giá trị và ý nghĩa của bài thơ Tây Tiến với thơ ca kháng chiến nói riêng, thơ ca Việt Nam nói chung.

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Phân tích bài thơ Tây Tiến

Bài văn tham khảo

Có những bài thơ đã sống cuộc đời đầy thăng trầm và cũng khá truân chuyên nhưng cuối cùng vẫn định hình trong lòng độc giả và khẳng định giá trị đích thực của mình trong thơ ca. “Tây Tiến” của Quang Dũng là một tác phẩm như thế. Bài thơ được nhớ lại như một kỉ niệm đẹp của cuộc kháng chiến gian khổ và để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc về một thời Tây Tiến, một vùng Tây Tiến.

Tác giả Quang Dũng là một người lính tham gia vào kháng chiến chống Pháp. Ông là một người rất đa tài với khả năng vẽ tranh, làm thơ, sáng tác nhạc. Trong đó đặc biệt thành công với vai trò nhà thơ và mảng thơ viết về đề tài người lính. Thơ ca Quang Dũng rất giàu tính nhạc và họa. Hồn thơ Quang Dũng rất lãng mạn và hào hoa.

Tây Tiến là tác phẩm thơ tiêu biểu của Quang Dũng. Tây Tiến là tên đơn vị bộ đội được thành lập vào năm1947 với nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt Lào. Bài thơ được viết tại Phù Lưu Chanh vào năm 1948, một năm sau khi nhà thơ Quang Dũng chuyển sang đơn vị bộ đội khác. Bài thơ tên ban đầu là “Nhớ Tây Tiến”, sau đó chính nhà thơ Quang Dũng đã đổi tên bài thành “Tây Tiến”. Tây Tiến là tác phẩm thơ mang đậm cảm hứng lãng mạn về hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian khổ.

Khổ một bài thơ là chặng đường hành quân của binh đoàn Tây Tiến trên nền thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội. Bốn câu thơ đầu của bài thơ bao trùm là một nỗi nhớ.

 Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Câu thơ mở đầu bài thơ là câu thơ bảy chữ trong đó có bốn chữ là tên riêng: sông Mã, Tây Tiến. Nỗi nhớ cô đọng trong hình tượng sông Mã, Tây Tiến, là điểm đầu và điểm cuối trong nỗi nhớ. Nhưng nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ “chơi vơi”. Cụm từ “chơi vơi” được sử dụng rất tinh tế. Bởi đó là nỗi nhớ trong hoài niệm, có khi hiện ra, có khi lại khuất đi, nỗi nhớ vừa mênh mang, lại vừa sâu lắng, chênh chao giữa hai bờ hư ảo về một miền núi rừng bồng bềnh sương khói. Còn hai địa danh “Sài Khao, Mường Lát” được nhắc tới ở hai câu thơ là địa bàn chiến đấu, in đậm dấu chân đoàn binh Tây Tiến. Và chỉ cần nhắc tới tên thôi là bao kỉ niệm của một thời chiến đấu đã ùa về. Nỗi nhớ trong hoài niệm nên mang theo màu sắc huyền ảo. Tác giả không viết hoa về mà viết hoa nở, đêm hơi mà không phải đêm sương vì những từ ngữ ấy tạo dựng cảm xúc tinh tế trong từng cảm nhận. Bốn câu thơ bao trùm nỗi nhớ, có hiện thực nhưng cũng rất đỗi huyền ảo, mơ mộng. Nhà thơ Quang Dũng còn khắc họa cho bạn đọc thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội.

 Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

 Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Trước hết, để minh chứng cho thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, tác giả sử dụng những từ ngữ giàu chất tạo hình “khúc khuỷu, thăm thẳm” cùng cách viết “súng ngửi trời” rất tự nhiên và đậm chất lính. Qua những từ láy và những hình ảnh đó đã diễn tả sự hiểm trở và độ cao ngút ngàn của núi rừng Tây Bắc. Quang Dũng đã dùng rất nhiều thanh trắc trong câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”. Câu thơ có tới năm chữ là thanh trắc gợi lên hình ảnh con đường quanh co, khúc khuỷu. Người đọc có cảm nhận như nghe thấy tiếng thở của người lính sau chặng đường hành quân vất vả. Ở đó, ta bắt gặp chân dung người lính vừa lãng mạn, vừa hào hùng: “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Đây là cách viết rất tạo hình. Chữ “ngửi” là một từ thô nhưng tác giả lại ghép nó trong câu với chữ “ngửi” đậm chất thơ. Cách diễn đạt ấy vừa gợi hình, vừa gợi cảm. Người lính hành quân trên núi cao mà mũi súng chạm đến đỉnh trời. Nó đem lại cho ta cảm nhận về chân dung người lính tinh nghịch, tếu táo trên muôn vàn gian khó. Trong câu “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, nhịp điệu 4/3 được Quang Dũng sử dụng rất tài tình. Câu thơ tạo nên hai thế đối lập giữa lên cao và xuống thấp, và nghe như câu thơ được bẻ đôi một cách đột ngột, vội vã. Dốc vút lên cao rồi đổ xuống gần như thẳng đứng. Núi rừng Tây Bắc hiểm trở nhưng hiểm trở ấy được tạo ra như thử thách dành cho người chiến binh thực thụ. Song thiên nhiên không chỉ có những dữ dội, hiểm trở. Cảm hứng lãng mạn đưa nhà thơ tìm đến với hương vị của lãng mạn: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Đây là một câu thơ đặc biệt trong toàn đoạn thơ, trong toàn bài thơ bởi nó sử dụng toàn các thanh bằng. Đan xen rất nhiều câu thơ thanh trắc lại là một câu thơ thanh bằng tạo cảm giác không gian mênh mang, bâng khuâng. Người lính dừng chân nơi lưng chừng  núi và phóng tầm mắt ra xa. Không gian núi rừng Tây Bắc hiện lên trước mắt họ với vẻ đẹp huyền ảo của làn mưa giăng, của mái nhà ấm êm. Câu thơ là một nét vẽ mềm mại, tinh tế từ góc nhìn hội họa. Quang Dũng không chỉ vẽ ra hình ảnh thiên nhiên mà hơn cả, ở đó ta bắt gặp những con người kiên cường và đầy nghị lực dẫu hoàn cảnh sống khắc nghiệt.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

Nhà thơ tái hiện trước hết về chặng đường hành quân gian khổ, khắc nghiệt, hy sinh. Người lính dãi dầu trong mưa nắng, gian khổ nhưng cũng hết sức thanh thản. Từ ngữ mà Quang Dũng sử dụng rất tinh tế. Từ “dãi dầu, gục” là những từ mạnh gợi lên gian khổ, hy sinh. Song ta cũng có thể hiểu đó là nói đến sự hy sinh của người lính trên chặng đường hành quân. Họ đi vào giấc ngủ ngàn thu, “không bước nữa, bỏ quên đời” là sự ra đi thanh thản, tự nguyện. Nhưng cũng có thể hiểu đó chỉ đơn giản là giấc ngủ tạm bợ của người chiến binh sau những giờ phút căng thẳng, mệt mỏi. Dù hiểu như thế nào thì chân dung người lính vẫn rất đẹp. Trong mọi hoàn cảnh, họ luôn sẵn sàng trong đội hình chiến đấu. Nhưng tài năng của nhà thơ còn tiếp tục đưa bạn đọc đến với những khám phá trong từng câu chữ về sự khắc nghiệt của chặng đường hành quân.

Xem thêm:  Kể lại truyện Bốn anh tài mà em được đọc và được học

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Thiên nhiên Tây Bắc được mở ra theo cả không gian và thời gian.Tất cả đều hoang vu, bí hiểm như một thách thức. Nhà thơ chọn cảnh chiều về bởi đây là thời điểm hoang vu, ẩn chứa những nguy hiểm rình rập. Động từ “trêu” cho thấy những bí hiểm, hoang vu đó không hù dọa người lính. Người lính vẫn vững tinh thần và vượt qua mọi khó khăn, thách thức bằng tinh thần lạc quan, bằng ý chí và tình yêu tổ quốc. Địa danh “Mường Hịch” gợi ra một nơi xa xôi, hẻo lánh. Vậy nhưng kết thúc đoạn thơ là nỗi nhớ. Nỗi nhớ này không còn là “chơi vơi” về núi rừng hoang vu, thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt mà gắn với con người và tình quân dân bịn rịn.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Sau khi chiến đấu gian khổ, người lính được nhận những nắm cơm nếp từ bản làng. Cơm nếp thơm hay cũng chính là tình cảm yêu thương gửi đến người chiến binh. “Thơm” mùi cơm nếp hay cũng chính là thơm thảo của lòng người.

Sau những gian khổ, những khó khăn, khắc nghiệt thì Quang Dũng mở ra trước mắt người đọc nét vẽ mềm mại về thiên nhiên, con người. Trong đó, nhà thơ dùng bút lực viết về đêm liên hoan văn nghệ thắm tình quân dân.

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

Cảnh hiện lên thật huyền ảo! Đêm liên hoan có sự tham gia của bản làng, của tình quân dân thắm thiết. Cảnh lãng mạn và được cảm nhận qua tâm hồn rất lãng mạn. Khi doanh trại bừng lên ánh sáng của lửa đuốc thì tất cả đều say sưa dưới ánh sáng. Trong âm thanh tiếng khèn vang, trong những điệu múa xòe, hội đuốc hoa làm người ta liên tưởng đến một lễ cưới. Vẻ đẹp của người lính ở đây là tâm hồn thưởng thức những điều đẹp đẽ, lãng mạn. Họ hào hứng, thích thú khi phát hiện ra vẻ đẹp của người phụ nữ. Họ trầm trồ trước những cái đẹp “Kìa em xiêm áo tự bao giờ”.Chữ “kìa” là sự ngẫm nghĩ, lại như tiếng cất lên trầm trồ và đằng sau đó ta như thấy ánh mắt, nụ cười của chàng lính trẻ đa tình, yêu đời. Người lính hướng tới vẻ đẹp mới mẻ, đầy màu sắc. Vậy nhưng, trong phút giây tình cảm đẹp đẽ, người lính vẫn hướng về nơi chiến trường với khát khao, mộng mơ. Bốn câu sau nhà thơ viết về cảnh sông nước Tây Bắc:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người bên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Đoạn thơ mang âm hưởng trầm buồn bởi nó gắn với hình ảnh của người ra đi. Chia li vốn đã buồn nhưng chia li trong buổi chiều sương còn buồn hơn. Đoạn thơ vẽ lên vẻ đẹp huyền ảo, mơ mộng của một vùng sông nước. Thời gian là một buổi chiều tĩnh lặng, không gian là cảnh sông nước với đôi bờ sương giăng. Nhà thơ phủ vào hồn lau tâm tình như linh hồn người chiến sĩ đã ngã xuống. Hình ảnh con người trên chiếc thuyền độc mộc gợi ra dáng vẻ người chèo đò chăm chỉ, cần mẫn. Hình ảnh “hoa đong đưa” có thẻ hiểu là cánh hoa rừng trôi trên mặt nước làm cho dòng nước vốn hung dữ đó lại trở nên duyên dáng, dịu dàng. Vì thế mà câu thơ, đoạn thơ mở ra một bức tranh thiên nhiên khắc nghiệt, để khẳng định bản lĩnh, vẻ đẹp của người Tây Bắc. Tất cả đã hòa nhập và để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí những người lính trẻ và trở thành kỉ niệm không thể nào quên.

Đoạn thơ thứ ba đã khắc họa thành công bức tượng đài cao đẹp, độc đáo về những người lính vô danh trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp. Hai câu thơ đầu tiên của đoạn thơ thứ ba miêu tả chân dung ngoại hình người lính:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

 Hình ảnh đoàn binh Tây Tiến hiện lên với những nét vẽ ngoại hình dị thường, lạ lẫm. Hình ảnh “một đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” là hậu quả của cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn: đói khát, đau ốm, căn bệnh sốt rét rừng hoành hành làm mái tóc các anh rụng dần đi, làn da xanh xao, vàng vọt. Nhưng cũng có thể hiểu một cách thi vị, tếu táo là mái đầu trọc ấy là do chính các anh tự tạo nên để thuận tiện trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu. Cuộc sống chiến đấu và sinh hoạt thiếu thốn đó đã được nhà thơ Chính Hữu hay Tố Hữu miêu tả một cách chân thực trong vần thơ của mình:

Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.

( Chính Hữu)

Hiện thực trong thơ Quang Dũng còn khắc nghiệt hơn vậy. Nhưng Quang Dũng đã tái hiện hiện thực đó bằng cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng, bằng bút pháp đảo ngữ, phủ định từ “không” đầy dứt khoát cùng những thanh trắc mạnh mẽ, thế bị động đã được đảo lại thành tinh thần chủ động: những người chiến binh không cần tóc, không cần mọc tóc chứ không phải do tóc của họ không mọc được. Không phải một cá nhân mà cả một đoàn quân trọc đầu- một đoàn quân lạ lẫm, ngạo nghễ. Hình ảnh “quân xanh màu lá”- màu của lá rừng, của cành lá ngụy trang và là màu của sự sống, của hi vọng. Kết hợp cùng hình ảnh so sánh, ẩn dụ “dữ oai hùm”, chân dung đoàn binh Tây Tiến hiện lên thật oai phong, lẫm liệt, tràn đầy khí phách tựa như mãnh hổ chốn rừng xanh.

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi

 Người lính Tây Tiến còn hiện lên đầy chân thực qua chân dung tâm hồn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Hình ảnh “mắt trừng” là đôi mắt mở to, tập trung mọi nhãn lực, thể hiện ý chí, khát vọng. Giấc mộng qua biên giới là giấc mộng lập công, giấc mộng về cuộc sống hòa bình, tự do. Giấc mộng ấy đã hòa nhập với tình yêu lứa đôi, với giấc mộng, giấc mơ lãng mạn và đa tình “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Các anh mơ về Hà Nội, nơi quê hương xứ sở, nơi phồn hoa đô hộ, nơi có dáng kiều thơm- những người thiếu nữ Hà thành xinh đẹp, yêu kiều. Những giấc mộng, giấc mơ là giây phút lãng mạn hiếm hoi trong tâm hồn các anh và là động lực tiếp bước chân người lính vượt qua bao khó khăn, gian khổ.

Người lính Tây Tiến còn hào hùng, hiên ngang trong lí tưởng sống cao đẹp. Các anh nguyện ra đi vì tổ quốc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Hình ảnh “những nấm mồ” nằm rải rác nơi biên cương xa xôi là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Quang Dũng không né tránh hiện thực mà dùng cảm hứng lãng mạn nâng đỡ cái bi thương. Với cách sử dụng một loạt từ Hán Việt cổ kính, trang trọng như “biên cương, mồ viễn xứ”, cái bi đã được giảm nhẹ, được mờ đi rất nhiều đặc biệt là qua cách nói đầy khẩu khí “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. “Đời xanh” là đời trẻ, là phần đời đẹp nhất của mỗi con người nhưng họ phải ra đi gửi tuổi xuân tươi đẹp ấy. Hai chữ “chẳng tiếc” là cách thể hiện thái độ lựa chọn dứt khoát: vì tổ quốc mà không ngại hi sinh. Bởi vậy, những khó khăn hay cái chết rình rập từng ngày cũng không làm các anh nản chí. Anh bộ đội cụ Hồ với những phẩm chất cao đẹp mãi là chân dung bi tránh cho tinh thần, cho ý chí quyết chiến, quyết thắng.

Vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến còn được thể hiện ở sự hi sinh bất tử:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Hình ảnh áo bào thay chiếu đã gợi lại một hiên thực đau thương nơi chiến trường miền Tây thuở ấy. Những người lính Tây Tiến sống trong tận cùng đau khổ, thiếu thốn và cũng ra đi trong sự thiếu thốn. Không có áo bào, khi hi sinh, các anh chỉ có manh chiếu đắp thân.Nhưng trong nhiều điều kiện gian khổ hơn thế, đến manh chiếu cũng không có thì chiếc áo lính bạc vì mưa nắng, rách vì bom đạn là những kỉ vật cuối cùng ôm trọn vẹn lấy các anh. Những vần thơ của Quang DŨng làm bạn đọc không khỏi bùi ngùi, xót xa. Nhưng tỏng chính những đau xót ấy, ta thấy được nỗi lòng riêng của nhà thơ. Ông viết “anh về đất” với ý nói giảm, nói tránh cái bi thương. Sự ra đi của các anh thật nhẹ hàng, thanh thản nhưu một cuộc trở về với đất mẹ sau khi hoàn thành nhiêm vụ với quê hương, đất nước. Thể xác, linh hồn các anh mãi trường tồn bất tử cùng non sông, đất nước. Và dòng sông Mã với “ khúc độc hành” là ẩn dụ, là nhân hóa nghệ thuật độc đáo. Dòng sông Mã đã thay lời thiên nhiên, đất nước, thay lời những người thân, đồng chí, đồng đội để cất lên khúc độc hành tiễn các anh về với nơi yên nghỉ vĩnh hằng. Đó là âm vang của lòng tiếc thương, của sự căm thù uất hận, của tinh thần quật khởi. Khúc ca bi tráng đã ắt đi đau thương của hiện thực và ngợi ca sự hi sinh anh hùng của những người chiến binh.

Ba khổ thơ khép lại trong cảm hứng lãng mạn, bi tráng của tiếng sông Mã gầm vang thì khổ thơ cuối cùng của bài thơ, cũng chính la khúc vĩ thanh của nỗi nhớ đúc kết cô đọng tình cảm của nhà thơ.

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Một lần nữa nhà thơ lại viết về Tây Tiến, về đoàn binh xưa với bao nhung nhớ quyết tâm. “Người đi” mà nhà thơ nói đến ở đây chính là những thanh niên trí thức lên đường vì tổ quốc và “chẳng tiếc” tuổi xuân phơi phới. Họ tự nguyện ra đi, tự nguyện cống hiến và nguyện thề mãi gắn bó với mảnh đất chiến trường cả linh hồn và thể xác của họ. Nhà thơ nhắc đi nhắc lại nhiều lần “Tây Tiến”, phải chăng ông muốn khắc sâu, muốn ghi nhớ mãi kỉ niệm xưa? Cụm từ “mùa xuân ấy” trong câu thơ được Quang Dũng sử dụng rất tinh tế. Đó là mùa xuân của tuổi trẻ, mùa xuân của quê hương đất nước và là ẩn dụ của chiến thắng, mùa xuân thành lập binh đoàn Tây Tiến. Đẹp lắm những hi sinh, những cống hiến quên mình của các anh vì quê hương.

“Tây Tiến” quả xứng danh là tác phẩm tiêu biểu của tiếng thơ Quang Dũng. Bài thơ có sự kết hợp hài hoa giữa các yếu tố nhạc, họa; giữa cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Nhà thơ còn không quên điểm tô những lời thơ của mình thêm phần thi vị với điệp từ, ẩn dụ, so sánh…giàu sức gợi. Thơ ca viết về miền Tây, thơ ca viết về chân dung người lính cũng rất nhiều nhưng “Tây Tiến” vẫn là bông hoa độc đáo nở rộ trong những năm tháng kháng chiến. Chân dung anh bộ đội cụ Hồ anh hùng, tếu táo vượt lên gian khổ, khó khăn mãi in dấu trong lòng bạn đọc các thế hệ.

M.Gorki viết “Văn học là nhân học”. Dẫu qua bao thế kỉ, tinh thần, hơi thở văn chương vẫn còn mãi. Những tiếng thơ như Quang Dũng là tình yêu thương cho con người, thiên nhiên và cuộc đời ngay trong những năm tháng gian khó. Nhà thơ Quang Dũng với tài năng của mình đã đưa bạn đọc bước vào thế giới của những nhung nhớ, yêu thương. Kỉ niệm về thiên nhiên, con người cũng tự nhiên như lời thơ Tây Tiến và đi vào lòng bạn đọc.

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment