Home Những bài văn hay lớp 11 [Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương

Dàn ý chi tiết

1.

Hướng dẫn

Mở bài:

 – Giới thiệu về tác giả Tú Xương:

Quê quán: Làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, Nam Định

– Tên: Trần Duy Uyên, tự Mộng Trai, hiệu Mộng Tích.

– Con người: nổi tiếng thông minh, giỏi thơ phú, có cá tính, sống phóng túng, không gò mình vào khuôn phép trường thi. Tám lần thi hỏng chỉ đậu tú tài.

=> Cuộc đời của một nhà nho bất đắc chí

-Giới thiệu về tác phẩm

Là bài thơ hay nhất, cảm động nhất của Tú Xương viết về Bà Tú, vừa ân tình, vừa hóm hỉnh.

2. Thân bài:

Phân tích bài thơ theo kết cấu: đề, thực, luận kết

-2 câu đề:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Thời gian: Quanh năm: Thời gian dài, làm việc quần quật không ngơi nghỉ

Công việc: Buôn bán => là công việc không ổn định, thường xuyên phải chịu nhiều biến động, dễ thất thu

Địa điểm: Mom sông => là nơi nguy hiểm, vắng người, có thể xảy ra bất trắc trong quá trình làm việc

Kết quả: Nuôi đủ năm con với một chồngà Làm việc vất vả quần quật nhưng không dư giả gì, áp lực công việc đè nặng trên đôi vai của bà Tú

-2 câu thực

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Hình ảnh con cò  tượng trưng cho sự vất vả, tất bật của bà Tú, từ láy lặn lội diễn tả sự cực nhọc, vất vả khi phải bươn chải kiếm sống trong cuộc đời đầy khổ ải, nhọc nhằn này. Không chỉ vất vả kiếm sống, bà Tú còn phải đối mặt với những nguy hiểm cận kề: Mặt nước buổi đò đông, đó là thời điểm người qua lại rất đông, và dễ xảy ra bất trắc, những vì tính chất công việc và vì gánh nặng trên vai nên bà Tú đã cố gắng để vượt qua những khoảnh khắc nguy hiểm đó

-2 câu luận:

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa chẳng quản công

+ Một duyên: chỉ duyên vợ chồng giữa bà Tú và ông Túà vì duyên vợ chồng này mà Bà Tú phải làm tất cả những gì có thể để trang trải cho cuộc sống. Hai nợà đó là nộ chồng, nợ con cái, là những gánh nặng, vất vả đè nặng trên đôi vai của bà Tú

+ Thành ngữ dân gian Năm nắng mười mưa: chỉ khoảng thời gian vất vả nhọc nhằn của bà Tú khi phải oằn mình trang trải cuộc sống cho cả gia đình, thời gian trôi đi rất nhanh nó nhiều như những gánh nặng mà bà Tú phải gánh vác trên vai

=> 2 câu thực dã tái hiện lại hiện thực khốc liệt của cuộc đời của nhà thơ Tú Xương nói chung và của bà Tú nói riêng, vì theo đuổi con đường thi cử đầy khó khăn, gập ghềnh mà ông Tú đã để cho vợ mình chịu đựng gánh nặng trên vai, đó là làm trụ cột cho gia đình

-2 câu kết:

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

+ Cụm từ: Cha mẹ ám chỉ tiếng kêu sẽ lòng của ông Tú, ông Tú tự chửi chính mình đã không làm tròn trách nhiệm của mọt người cha, người chồng để bà Tú phải vất vả sớm hôm

+ Tú xương nhận lỗi về mình, xót xa cho sự vất vả của vơj

=> Vẻ đẹp trong nhân cách của Tú Xương.

3. Kết bài: Tổng kết lại bài thơ

Chân dung bà Tú hiện lên vô cùng vất vả, tất bật lo toan cho cả gia đình

Sự nuối tiếc, xót xa thương vợ của Tú Xương

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương

Phân tích bài thơ Thương vợ

Bài văn tham khảo

Xem thêm:  Tả lại quang cảnh phiên chợ vùng xuôi theo tưởng tượng của em

Văn học trung đại Việt Nam không thiếu những thi nhân nổi bật, mỗi nhà thơ có phong cách riêng, đặc trưng riêng được thể hiện rõ nét trong mỗi tác phẩm của mình. Một trong những thi nhân, nhà thơ khiến cho bao thế hệ người đọc phải suy ngẫm, day dứt trăn về đời sống xã hội, về hiện thực khoa cử quan trường đó là nhà thơ Trần Tế Xương. Cuộc đời của nhà thơ có thể nói là nhiều thăng trầm, bởi rất nhiều lần nhà thơ đi thi những đều thi hỏng, nổi tiếng thông minh, tài giỏi từ nhỏ nhưng Tế Xương phải chịu đựng cuộc sống nghèo khổ và khốn khó. Trong những năm tháng nhọc nhằn và vất vả ấy, Tế Xương đã sống nhờ vợ, nhà thơ bày tỏ tình yêu thường cảm thông với vợ mình qua bài thơ Thương vợ – một trong những thi phẩm xuất sắc thể hiện tài năng thơ Trần Tế Xương và nhân cách cao đẹp, tấm lòng ngay thẳng không chịu luồn cúi, khom mình dưới sự ngột ngạt của chế độ phong kiến đường thời.

Có thể chia tác phẩm Thương vợ thành bốn phần: đề, thực, luận, kết. Hai câu mở đầu tác phẩm, tác giả viết:.

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Chỉ với hai câu thơ tác giả đã tái hiện cho chúng ta thấy hình ảnh vất vả, tất bật của bà Tú. Từ chỉ thời gian: Quanh năm cho thấy bà phải làm việc quần quật suốt ngày đêm không nghỉ, dường như tất cả công việc đều đổ dồn trên đôi vai gầy yếu của bà, từ ngữ chỉ thời gian còn cho thấy quanh năm kéo dài rất dài, rất chậm, nếu một người bình thường làm việc còn có ngày nghỉ thì hình như bà Tú làm quần quật không nghỉ, vậy điều gì khiến bà Tú phải hi sinh bản thân mình nhiều như vậy, tất cả đã có ở những từ ngữ tiếp theo: Nuôi đủ năm con với một chồng, thì ra gánh nặng mà bà Tú phải gánh vác không nhẹ chút nào: đàn con nheo nhóc, ông chồng vô công rồi nghề đã khiến bà Tú phải trở thành trụ cột chính cho cả gia đình. Nếu trong thơ Hồ Xuân Hương chúng ta bắt gặp tâm trạng của người phụ nữ đau khổ oán thán vì lấy chồng chung: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung, thì ở bài thơ Thương vợ chúng ta thấy nỗi đau khổ của người phụ nữ là phải trở thành trụ cột cho cả gia đình, không những vậy, nơi làm việc cảu bà Tú cũng chứa đầy những nguy hiểm không ngờ: Mom sông mà một khoảng đất trống nhỏ bé, khoảng đất ấy có thể sụp bất cứ lúc nào nếu người ta không cẩn thận và khéo léo, và bà Tú đã làm việc ở nơi đó quanh năm suốt tháng.  Hai câu thơ đã phần nào khái quát cuộc sống cơ cực, khổ cực của bà Tú.Những câu thơ tiếp theo, tác giả viết:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Từ lặn lội cho thấy sự nhọc nhằn của bà Tú, bà Tú phải thức khuya dậy sớm, cần mẫn làm việc để có thể có đủ tiền trang trải cho cuộc sống, cho gia đình. Trong văn học Việt Nam chúng ta đã bắt gặp rất nhiều những hình ảnh tảo tần vất vả sớm hôm của những bà mẹ, những bà bủ, bà bầm nhưng sự vất vả hi sinh của họ được trang trọng đặt trên những vần thơ rực lửa của nhà thơ Tố Hữu, họ cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho đất nước., phục vụ hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, thực hiện những điều đất nước cần nhân dân cần. Nhưng ở đây Trần Tế Xương đã ví hình ảnh của bà Tú với thân cò, hình ảnh con cò vô cũng quen thuộc trong ca dao, ta vẫn thường nghe:

Xem thêm:  Giới thiệu về sự nghiệp sáng tác của tác giả Hồ Chí Minh

Con cò bay lả bay la

Bay từ của phủ bay ra cánh đồng.

Hoặc:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phi cành mềm lộn cổ xuống ao.

 Hình ảnh thân cò được ví với sự tần tảo hi sinh của những người phụ nữ hay lam hay làm, và Tế Xương với cảm nhận của một thi sĩ, văn nhân ông đã ví hình ảnh nhọc nhằn của người vợ qua hình ảnh con cò, không phải là hình ảnh con cò bay thành từng đàn từng nhóm mà là hình ảnh con cò cô đơn, lẻ loi, hiu quạnh đi kiếm cái ăn. Gánh nặng phải trở thành trụ cột của gia đình đã dồn nén trên vai bà Tú khiến bà cảm thấy mệt mỏi, chán chường. Đọc câu thơ chúng ta có cảm giác như tất cả những nỗi nhọc nhằn trằn trọc của cuộc đời đêu trút hết lên đôi vai gầy yếu của bà Tú. Nơi bà làm việc cũng không phải là nơi an toàn mà đầy rẫy những nguy hiểm. Buổi chợ tan tầm, buổi đò đông là lúc người ta trở về nhà sau một thời gian tất bật, giờ này người ta chen chúc nhau thậm chí xô đổ nhau để lên thuyền. Bà Tú cũng là một trong số những người như thế, bà phải đối mặt với nguy hiểm rình rập cả ngày, có thể ảnh hưởng đến tính mạng. Câu thơ vùa dứt nhưng để lại cho người đọc bao nhiêu âu lo, phiền não. Sức mạnh của người phụ nữ thật phi thường có thể chịu đựng được những khó khăn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đến đây mỗi chúng ta như nghẹn ngào vì sự vất vả, sự hi sinh quá lớn lao của bà Tú. Từ láy lặn lội đã vẽ lên hình ảnh người phụ nữ chịu thương chịu khó vì gia đình, từ eo sèo để nhắc đến khung cảnh xã hội đầy rẫy những hiểm nguy đối với người phụ nữ. Sống trong hoàn cảnh như thế có lẽ bà Tú phải cô đơn lắm, đau khổ lăm khi một mình phải gánh gồng tất cả mọi thứ trong gia đình mà không có ai đỡ đần. Những câu thơ tiếp theo Tú Xương viết:

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Đọc những câu thơ này người đọc tự hỏi vì nguyên nhân gì, vì lý do gì mà bà Tú phải tất bật ngược xuôi nhiều đến như thế thì ra cái lý do sâu xa hiển hiện trước mặt đó là vì chồng vì con: Một duyên là nhân duyên giữa vợ chồng, có cây nói rằng, vợ chồng là nghĩa trăm năm, phải tu ngàn năm mới có thể thành vợ chồng, cái nguyên cớ thứ hai khiến bà Tú trở thành trụ cột của gia đình đó là hai nợ: nợ vợ chồng và nợ con cái. Chỉ với những lý do như vậy chúng ta đủ hiểu con người bà Tú thật nặng nghĩa nặng tình. Thời phong kiến đã quy định rất rõ ràng về bổn phận và nghĩa vụ của người con gái trong gia đình: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử… những duyên nợ ấy thật nặng nề khiến chúng ta có cảm tưởng rằng tất cả những quyền lợi của người phụ nữ đều bị tước đoạt họ chỉ có một bổn phận duy nhất là phục vụ chồng, phục vụ con, phục vụ cha… bổn phận đó ràng buộc người phụ nữ khiến họ mất tự do không thể sống cuộc đời mà mình làm chủ, không thể vươn lên để đả phá chế độ phong kiến đương thời. Câu thơ dường như đề cập đến vấn đề mà bất cứ người phụ nữ nào trong xã hội đều gặp phải.Chính vì lẽ sống như vậy mà bà Tú đã hi sinh sức lực tuổi trẻ của mình để bảo vệ mục đích sống, bảo vệ tổ ấm của mình dù rằng: Năm nắng mười mưa chẳng quản công, công việc dù có nặng nề khổ cực bao nhiêu những bà Tú vẫn không nề hà vẫn cố gắng hoàn thành bổn phận của mình dù rằng thời gian trôi qua rất nhanh, dòng đời biến động rất nhiều.  Thành ngữ năm nắng mười mưa ám chỉ sự nhọc nhằn, vất vả của bà Tú, ám chỉ sự kìm kẹp của hệ tư tưởng phong kiến, sự mục ruỗng của xã hội đương thời đồng thời xen lẫn vào đó là sự xót xa thương cảm của người chồng bất tài vô tướng. Tú Xương đã tái hiện một cách khá rõ ràng tất cả những khó khăn vất vả mà Bà Tú đã trải qua, đây là một trong những dòng cảm xúc nghẹn ngào mà tác giả muốn dành cho vợ mình, dành cho tri âm tri kỉ.  Hai câu thơ cuối thể hiện rõ nhất tâm trạng bất lực của ông Tú:

Xem thêm:  Phân tích sức sống tiềm tàng mới trỗi dậy của nhân vật Mị

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

 Khi đã trải qua quá nhiều bất công quá nhiều chuyện trong cuộc sống, Tú Xương đã không còn lạc quan như xưa, mộng tưởng sẽ thành danh cũng theo đó mà tan biến, nhìn vào thực tế cuộc sống thì chính bản thân ông đang phải sống nhờ vợ, khiến cho vợ buồn lòng. Hai câu thơ trên không chỉ miêu tả thực tế cuộc sống khổ cực, nhọc nhằn mà còn bộc lộ tâm trạng đau khổ, bất lực của nhà thơ trước sự bất công, bạc bẽo của cuộc đời. Bà Tú tuy có chồng nhưng có mà như không có vì chồng cũng chẳng giúp ích được gì cho bản thân bà. Đã thế để phục vụ cho những hoài bão, mộng tưởng của chồng bản thân bà phải hi sinh cuộc đời mình, những thú vui của mình, lao đầu vào làm việc để thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ của người vợ. Tiếng cười của Tú Xương là tiếng cười trào phúng, tác giả tự cười cho chính bản thân mình nhưng đằng sau nụ cười nhếch mép ấy là nỗi xót xa vì không thể giúp được gì cho vợ, là sự đau đớn khi phải chứng kiến những thói đời bạc bẽo. Thẳm sâu trong trái tim ông tí vẫn dành cho bà Tú một vị trí trang trọng, sự tôn trọng sự biết ơn những gì mà bà Tú đã hi sinh vì gia đình, vì chồng con. Khi đọc lại bài thơ này chúng ta thấy hiện lên thật đẹp những phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam được kết tinh ở bà Tú: sự siêng năng, chăm chỉ, sự tần tảo, chịu thương chịu khó.

Bằng việc vận dụng một cách nhuần nhuyễn sáng tạo ngôn ngữ thi liệu văn hóa dân gian, bằng sự kết hợp tài tình giữa trữ tình và trào phúng và bằng con mắt tinh tường của một thi sĩ, bằng trái tim yêu nghệ thuật Tú Xương đã cho bạn đọc một thi phẩm giá trị, tác giả đã dựng thành công chân dung bà Tú vất vả tất bật sớm hôm vì cuộc sống vì gia đình, bên cạnh đó bà Tú là hình ảnh đại diện những phẩm chất cho những người phụ nữ Việt Nam. Đồng thời đọc bài thơ Thương vợ của Tú Xương chúng ta đồng cảm cho số phận, thân phận bé mọn của những người phụ nữ trong xã hội cũ và bản thân chúng ta cảm thông với những vất vả khó khăn, những cùng cực ở cuộc đời mà nhà thơ đã trải qua.

Hoàng Bạch Diệp

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment