Home Những bài văn hay lớp 12 [Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

Nêu vấn đề nghị luận.

Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên.

2. Thân bài:

Luận điểm 1: Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

Nhà thơ Chế Lan Viên.

_sinh năm 1920, mất năm 1989.

_Trước cách mạng tháng Tám, thơ ông bộc lộ nỗi buồn của người trí thức bế tắc trước cuộc đời.

_Sau cách mạng tháng Tám, thơ ông bộc lộ niềm vui, hòa mình vào dòng chảy của cách mạng và kháng chiến.

_Tác phẩm tiêu biểu: Điêu tàn, Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa..

Hoàn cảnh sáng tác:

_Liên quan tới một sự kiện kinh tế xã hội: trong những năm 1958- 1960 là cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên phát triển miền núi đặc biệt là Tây Bắc.

_in trong tập “Ánh sáng và phù sa” (1960).

Luận điểm 2: Khổ 1+ khổ 3 : sự trăn trở, lời giục giã lên đường để về với Tây Bắc của một tâm hồn tràn đầy lí tưởng.

_Sự trăn trở của người trí thức gắn bó sâu sắc với tổ quốc, với quê hương.

_Trong lời trăn trở giục giã ấy là khoa khát về với Tây Bắc để cảm hứng sáng tác được khơi dậy. Bởi “Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”.

_Những hình ảnh tượng trưng: gió ngàn đang rú gọi, “Ngoài Cửa Hôm tàu đói những vầng trăng”.. là tượng trưng cho khao khát mãnh liệt của nhà thơ. Là khao khát tìm thấy cảm hứng sáng tạo của một nghệ sĩ với lí tưởng cao đẹp.

_Hình ảnh đối lập: “Đất nước mênh mông” và “đời anh nhỏ hẹp” đã bộc lộ sự trăn trở của nhà thơ và đây cũng là lời nhắn nhủ gửi đến những nghệ sĩ đương thời , thôi thúc, giục giã lên đường.

*Khao khát mãnh liệt của nhà thơ

Luận điểm 3: chín khổ thơ tiếp: những kỉ niệm thời kháng chiến gian khổ ở núi rừng Tây Bắc.

_ “thiêng liêng”, “anh hùng” bộc lộ sự tri ân, lòng thành kính sâu sắc nhà thơ dành cho Tây Bắc.

_hình ảnh tượng trưng đối lập “máu rỏ tâm hồn ta thấm đất”, “dạt dào”, thể hiện sự ngưỡng vọng với những con người hi sinh vì tổ quốc và niềm tin vào sự sống đang hồi sinh.

Cho thấy tình cảm gắn bó tha thiết của nhà thơ với mảnh đất Tây Bắc.

_nhà thơ cũng khẳng định kháng chiến mãi là ngọn lửa trong trái tim của bao con người Việt Nam và với nhà thơ, Tây Bắc là mẹ, là nhân dân với tình yêu tha thiết, nồng nàn.

_So sánh gặp lại nhân dân “nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, đứa trẻ thơ…Tây Bắc là nguồn sống trong tâm hồn nhà thơ.

+nai về.. có cái gì đó quen thuộc, cỏ… như mùa xuân, như sự sống đang trỗi dậy, niềm vui rộn ràng..TB chính là người mẹ của hồn thơ Chế Lan Viên.

_Nhà thơ nhớ lại nhân dân trong kháng chiến với cách gọi “anh con”, “em con” đã thể hiện sự gắn bó vô cùng sâu sắc.

_Từ nỗi nhớ, nhà thơ đã đúc kết thành một chân lí: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Đó là tình cảm sâu lặng với quê hương Tây Bắc và vùng đất này đã trở thành cõi tâm hồn của nhà thơ.

_Nỗi nhớ trong tình yêu với những hình ảnh so sánh và đi đến kết luận triết lí: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Và tình yêu ở đây gắn liền với tình yêu đất nước, với tình cảm muôn dân, với nghĩa tình cách mạng và càng trở nên thiêng liêng,  sâu sắc như “hương nếp xôi” vương vấn tâm hồn người.

Luận điểm 4: bốn khổ thơ còn lại: niềm vui hướng về Tây Bắc trong công cuộc xây dựng đất nước.

_ngọn lửa tha thiết đam mê rạo rực trong tái tim của nhà thơ đang bùng cháy mãnh liệt.

_nhà thơ khao khát cống hiến cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhà thơ cũng khao khát đánh thức những xúc cảm sâu lắng trong tâm hồn mình. Đây là những khao khát của người nghệ sĩ chân chính.

Luận điểm 5: Đánh giá về nội dung và nghệ thuật.

3. Kết bài:

Khẳng định giá trị của Tiếng hát con tàu với nền văn học Việt Nam.

Xem thêm:  Em hãy viết bài văn miêu tả đường từ nhà đến trường

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu

Bài làm tham khảo

Sự biến chuyển của thời gian luôn là ảnh hưởng to lớn tác động đến những đổi thay của con người. Và chính nó đã tạo nên những chuyển mình ấn tượng của những nền văn học khác nhau. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng là một trong số những nhân tố chịu những ảnh hưởng từ thay đổi của thời cuộc. Và những sáng tác của ông ra đời là minh chứng rõ nét cho những biến chuyển trong hồn thơ Chế Lan Viên. Tiếng hát con tàu là khúc ca chan chứa tình cảm, gửi gắm tâm tư của nhà thơ với tổ quốc, với quê hương.

Chế Lan Viên là cây bút có sức sáng tạo dồi dào trong thơ ca Việt Nam. Trước cách mạng tháng Tám, thơ ông bộc lộ nỗi buồn của người trí thức bế tắc trước cuộc đời. Ông cũng giống như nhiều nhà thơ thời bấy giờ, tiếng thơ não nùng, ai oán, không tìm được lối đi. Chỉ sau khi cách mạng tháng Tám thành công, bạn đọc mới gặp lạ một Chế Lan Viên hăng say, nhiệt huyết. Thơ ông thời kì này bộc lộ niềm vui, hòa mình vào dòng chảy của cách mạng và kháng chiến. Sự nghiệp thơ ca của Chế Lan Viên là hành trình trải dài của những cảm xúc. Nói đến thơ ca Chế Lan Viên là nhắc tới các tập thơ: Điêu tàn, Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa..

Tiếng hát con tàu là bài thơ được viết sau Cách mạng và có liên quan trực tiếp đến một sự kiện kinh tế xã hội: trong những năm 1958- 1960 là cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên phát triển miền núi đặc biệt là Tây Bắc. Và bài thơ được in trong tập thơ “Ánh sáng và phù sa” (1960).

Ba khổ thơ đầu là sự trăn trở, lời giục giã lên đường để về với Tây Bắc của một tâm hồn tràn đầy lí tưởng.

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Sự trăn trở của người trí thức thể hiện tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với tổ quốc, với quê hương. Trong lời trăn trở giục giã ấy là khao khát về với Tây Bắc để cảm hứng sáng tác được khơi dậy. Bởi “Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”. Những hình ảnh tượng trưng: gió ngàn đang rú gọi, “Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng?”.. là tượng trưng cho khao khát mãnh liệt của nhà thơ. Là khao khát tìm thấy cảm hứng sáng tạo của một nghệ sĩ với lí tưởng cao đẹp. Hình ảnh đối lập: “Đất nước mênh mông” và “đời anh nhỏ hẹp” đã bộc lộ sự trăn trở của nhà thơ và đây cũng là lời nhắn nhủ gửi đến những nghệ sĩ đương thời , thôi thúc, giục giã lên đường. Khao khát mãnh liệt của nhà thơ cũng là khao khát chung của thế hệ trẻ Việt Nam thời ấy. “Những con tàu” của “lòng ta” là ẩn dụ cho khao khát, cho ước muốn cống hiến vì tổ quốc. Hình ảnh liệt kê được sử dụng trong khổ thơ là biểu trưng thiêng liêng của Tây Bắc. Và vượt trên những gian khổ của mảnh đất núi rừng hoang vu là những người nghệ sĩ chân chính với khát khao hòa nhập nơi sâu thẳm tâm hồn.

chín khổ thơ tiếp: những kỉ niệm thời kháng chiến gian khổ ở núi rừng Tây Bắc.

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Xem thêm:  Hướng dẫn soạn văn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long

Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chi là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương

Nhà thơ Chế Lan Viên liên tục lặp lại khoảng thời gian “mười năm” cùng hình ảnh gắn bó Tây Bắc. Lời thơ nào cũng hối hả, giục giã và gợi bao ân tình thủy chung. Cũng như tình cảm của cán bộ và nhân dân trong Việt Bắc của Tố Hữu, Chế Lan Viên cũng dành tình cảm trân trọng, lòng tri ân sâu sắc, thành kính với mảnh đất Tây Bắc.

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Hình ảnh tượng trưng đối lập “máu rỏ tâm hồn ta thấm đất”, cùng với “rạt rào trái chín đầu xuân” đã khắc sâu nỗi niềm tâm trạng trong nhà thơ. Máu rỏ ấy là máu của những hi sinh, máu của gian khổ để có thể tiến đến độc lập tự do. Và chính trên mảnh đất của máu và nước mắt ấy, sự sống đang hồi sinh. “Trái đầu xuân”- những cây trái non tơ ấy là ẩn dụ của nhựa sống, sự sống đang vươn mình trên mảnh đất khô cằn của máu và nước mắt. Nhà thơ đã có cơ hội bày tỏ chân thành, tha thiế tình cảm của mình với mảnh đất Tây Bắc và nhà thơ cũng khẳng định kháng chiến mãi là ngọn lửa trong trái tim của bao con người Việt Nam. Tây Bắc là mẹ, là nhân dân với tình yêu tha thiết, nồng nàn.

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.

Những hình ảnh so sánh trong bài thơ vô cùng độc đáo như : gặp lại nhân dân nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, đứa trẻ thơ…Tây Bắc thật sự nguồn sống trong tâm hồn nhà thơ. Và sự gắn bó của tác giả với Tây Bắc là sợi dây kết nối của tình cảm gia đình trìu mến, thiết tha. Tất cả cảnh vật, con người đều quen thuộc với tác giả và trở thành người mẹ của hồn thơ Chế Lan Viên.

Nhà thơ nhớ lại nhân dân trong kháng chiến với cách gọi “anh con”, “em con” đã thể hiện sự gắn bó vô cùng sâu sắc. Tố Hữu trong những vần thơ Từ ấy khi giác ngộ lí tưởng Cách mạng từng là con của vạn nhà, là em của vạn kiếp phôi phai, là anh của vạn đầu em nhỏ. Nay ta lại bắt gặp Chế Lan Viên với một tình cảm vô cùng gắn bó và thiêng liêng. Cũng từ nỗi nhớ ấy mà nhà thơ đã đúc kết thành một chân lí: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Đó là tình cảm sâu lặng với quê hương Tây Bắc và vùng đất này đã trở thành cõi tâm hồn của nhà thơ. Nỗi nhớ trong tình yêu với những hình ảnh so sánh và đi đến kết luận triết lí: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Và tình yêu ở đây gắn liền với tình yêu đất nước, với tình cảm muôn dân, với nghĩa tình cách mạng và càng trở nên thiêng liêng,  sâu sắc như “hương nếp xôi” vương vấn tâm hồn người. Hương thơm của xôi nếp hay cũng chính là thơm thảo của lòng người và trở thành nét ấn tượng mạnh mẽ trong tâm hồn nhà thơ.

Xem thêm:   Anh chị hiểu thế nào về tự do và tình yêu với tự do trong bài thơ của P. ê-luy-a

Bốn khổ thơ cuối bài là niềm vui hướng về Tây Bắc trong công cuộc xây dựng đất nước.

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?
Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng
Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào
Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến
Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ
Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

Ngọn lửa tha thiết đam mê rạo rực trong tái tim của nhà thơ đang bùng cháy mãnh liệt. Và nhhà thơ khao khát cống hiến cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhà thơ cũng khao khát đánh thức những xúc cảm sâu lắng trong tâm hồn mình. Đây là những khao khát của người nghệ sĩ chân chính. Chế Lan Viên đắm chìm trong những niềm vui hân hoan, trong niềm tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của vùng đất Tây Bắc. Con tàu mang tên hành trình Tây Bắc ấy là con tàu trong hiện thực, và người nghệ sĩ- người nhân dân lao động đang ngày ngày tìm cách hiện thực hóa con tàu ấy. Khát khao cống hiến ấy của người nghệ sĩ là khát khao chân chính và vô cùng đáng ngợi ca.

Một trong những thành công nổi bật của bài thơ Tiếng hát con tàu là nghệ thuật sáng tạo hình ảnh. Chế Lan Viên đã xây dựng hình ảnh thơ, tứ thơ theo lối tả thực và cả những hình ảnh ẩn dụ chứa đựng những suy tư, triết lí của nhà thơ. Nhịp thơ nền nã, chậm rãi mà da diết đi sâu vào lòng người. Thơ Chế Lan Viên như là gửi hồn của những hi vọng, những khao khát dựng xây bầu trời của tưởng tượng và khát vọng cống hiến. Hình ảnh thơ được nói đến trong toàn bộ bài thơ đều khoác một lớp áo nhưng không gây khó khăn hay thách thức bạn đọc mà nó đơn giản, tình tứ đi sâu vào cõi lòng con người. Chính những hình ảnh thơ nhẹ nhàng đắm say ấy đã làm nên thành công nghệ thuật to lớn cho khúc ca Tiếng hát con tàu.

Có biết bao lời thơ cũng chứa chan như Chế Lan Viên đã cất lên vì một sự nghiệp phát triển đất nước. Thế nhưng dù có đứng trước lớp bụi thời gian thì những giá trị của lời thơ Tiếng hát con tàu vẫn mãi vang vọng. Khao khát và ước mơ cống hiến mãi là ánh sáng của tinh thần dân tộc không thể xóa nhòa. Thơ ca Việt Nam với những ngòi bút của khát vọng sẽ trở thành ánh sáng soi đường, dẫn lối cho lớp lớp thế hệ trẻ và cùng nhau cống hiến cho tổ quốc.

Nguyễn Thị Thu Trang

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment