Home Những bài văn hay lớp 11 [Văn mẫu học sinh] Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

Dàn ý chi tiết

1.

Hướng dẫn

Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

2. Thân bài

* Lung khởi

Khung cảnh bão táp của thời đại:

– Mở đầu là câu bốn chữ, nhịp 4/ 4, tạo ra các đối lập từ hình thức đến nội dung:

+ Đối lập bằng – trắc: T T T B – B B B T.

+ Đối lập từ loại: D D D Đ – D D D Đ.

+ Đối lập ý nghĩa: súng giặc – lòng dân, đất – trời, rền – tỏ.

=> Khung cảnh bão táp của thời đại xã hội Việt Nam đầu những năm 60 của thế kỉ XIX: Cuộc đụng độ giữa thế lực xâm lược là thực dân Pháp và ý chí bất khuất bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.

– Không gian vũ trụ rộng lớn: trời đất, các động từ rền, tỏ gợi sự khuếch tán âm thanh, sự rực rỡ của ánh sáng.

* Ý nghĩa bất tử của cái chết vì nghĩa lớn: Người nghĩa sĩ tuy hi sinh nhưng tiếng thơm, thanh danh còn vang vọng mãi.

=> Tất cả hợp thành bệ đỡ hoành tráng cho bức tượng đài sẽ được dựng ở đoạn sau thành một chỉnh thể có tầm vóc to lớn, bài văn tế trở nên đậm chất sử thi.

* Thích thực

– Tái hiện hình ảnh người nghĩa sĩ trước trận đánh (3- 5):

+ Họ vốn là những người nông dân nghèo khổ.

+  Từ cui cút không chỉ thể hiện cuộc đời lam lũ, lầm lũi của người nông dân mà còn chứa đựng niềm cảm thông của tác giả.

+ Nguyễn Đình Chiểu nhấn mạnh vào đặc điểm họ hoàn toàn xa lạ với việc binh đao nhằm tạo sự đối lập để tôn cao người anh hùng ở đoạn sau (chưa quen cung ngựa… làng bộ).

– Bước chuyển biến khi quân giặc xâm phạm đất đai, bờ cõi của cha ông (6- 9):

+ Chuyển biến về tình cảm: lòng căm thù giặc (ghét thói mọi… cỏ, muốn tới ăn gan, cắn cổ => động từ tình thái, động từ mạnh).

+ Chuyển biến về nhận thức: Một mối xa thư… bán chó => ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp cứu nước.

+ Hành động tự nguyện: mến nghĩa làm quân chiêu mộ và ý chí quyết tâm diệt giặc của người nông dân- nghĩa sĩ (sử dụng những cụm từ có sắc thái biểu cảm mạnh: nào đợi, chẳng thèm, ra sức đoạn kình, ra tay bộ hổ).

=> Những bước chuyển biến được miêu tả chân thực, sinh động, hợp lí, gần gũi với cách suy nghĩ và lời ăn tiếng nói của người nông dân (Trông tin… mưa, ghét… cỏ).

– Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận đánh (10- 15):

+ Hình ảnh đội quân áo vải được khắc hoạ hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo tính ước lệ của văn thơ trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lí tưởng hoá (10- 12). Những chi tiết chân thực đều được lựa chọn lọc tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính khái quát, đặc trưng cao (manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay) => vẻ đẹp mộc mạc, giản dị mà không kém “chất” anh hùng bởi tư thế hiên ngang, coi thường mọi khó khăn, thiếu thốn (nào đợi tập rèn, không chờ bày bố, nào đợi mang, chi nài sắm).

+ Hình tượng những người anh hùng được khắc nổi trên nền một trận công đồn đầy khí thế tiến công.

Hệ thống từ ngữ: nhiều động từ mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, , , ó…), dứt khoát (đốt xong, chém đặng, trối kệ), nhiều khẩu ngữ nông thôn và từ ngữ mang tính địa phương Nam Bộ (nhà dạy đạo, như chẳng có, thằng Tây, hè, ó…)

Phép đối từ ngữ (trống kì – trống giục, lướt tới -xông vào, đạn nhỏ – đạn to, đâm ngang – chém ngược…), đối ý (ta: manh áo vải, ngọn tầm vông – địch: đạn nhỏ, đạn to, tàu thiếc, tàu đồng; vũ khí thô sơ: rơm con cúi, lưỡi dao phay – chiến thắng lớn: đốt xong nhà dạy đạo, chém rót đầu quan hai), đối thanh bằng – trắc (kia – nọ, kì – giục, tới – vào, nhỏ – to…).

=> Khác với hình ảnh lính thú thời xưa:

Ngang lưng thì thắt bao vàng…

Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

=> Nguyễn Đình Chiểu đã phát hiện và ngợi ca phẩm chất cao quí tiềm ẩn sau manh áo vải, sau cuộc đời lam lũ của người nông dân là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.

Hình tượng nhân vật được đặt trong một kết cấu chặt chẽ, hợp lí. Ngòi bút hiện thực kết hợp với chất trữ tình sâu lắng, ẩn chứa trong từng câu chữ, từng hình ảnh thể hiện nỗi cảm thông, niềm kính phục và tự hào của tác giả. Từ ngữ tinh tế, chính xác, có sức gợi cảm. Nhiều biện pháp tu từ được sử dụng thành công, tạo được hiệu quả nghệ thuật cao

* Ai vãn

– Nỗi xót thương đối với người nghĩa sĩ:

+ Nỗi tiếc hận của người phải hi sinh khi sự nghiệp còn đang dang dở, chí nguyện chưa thành (16 – 24).

+ Nỗi xót xa của những gia đình mất người thân, tổn thất không thể bù đắp đối với mẹ già, vợ trẻ (25)

Xem thêm:  Phân tích nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

+ Nỗi căm hờn những kẻ đã gây nên nghịch cảnh éo le (21).

+ Tiếng khóc uất ức nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước (27).

– Niềm cảm phục và tự hào đối với những người dân thường đã dám đứng lên bảo vệ từng tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo, đã lấy cái chết để làm rạng ngời chân lí cao đẹp của thời đại thà chết vinh còn hơn sống nhục (22 – 23).

– Biểu dương công trạng của người nông dân – nghĩa sĩ, đời đời được Tổ quốc ghi công (26 – 28).

=> Tiếng khóc không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người nghĩa sĩ. Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống không chỉ gợi nỗi đau thương mà cao hơn nữa, còn khích lệ lòngcăm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ.

* Khốc tận

– Trở lại hiện thực, khóc thương và ngợi ca tấm lòng thiên dân của nghĩa sĩ. Nỗi đau sâu nặng (Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo) không chỉ trong lòng người mà dường như còn bao trùm khắp cỏ cây, sông núi (sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình, chùa Tông Thạnh, Bến Nghé, Đồng Nai)- tất cả đều nhuốm màu tang tóc, bi thương.

3. Kết bài

Tổng kết về nội dung và nghệ thuật

[Văn mẫu học sinh] Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Bài văn tham khảo

Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ yêu nước mãnh liệt, thơ văn của ông được sử dụng để chống lại kẻ thù xâm lược, thơ của ông là vũ khí làm đòn xoay chế độ khi đất nước lâm vào cảnh khốn cùng, đau khổ. Nguyễn Đình Chiểu có một cuộc đời gian truân nhiều đau đớn, phải chăng những khó khăn thử thách trong cuộc sống đã tôi luyện nên một người nghệ sĩ bền gan vững chí luôn sẵn sàng cầm bút chống lại kẻ thù xâm lược đúng như tuyên ngôn của ông :

Chở bao nhiêu dạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Thơ văn Nguyễn Đình Chiều luôn đứng về phía nhân dân, bảo vệ và bênh vực nhân dân, trong số những tác phẩm của ông để lại cho đời, ngoài Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu… có thể kể đến văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một trong những tác phẩm xuất sắc thể hiện tài năng bút lực và tấm lòng yêu nước của ông.

Có thể chia tác phẩm thành bốn phần: Lung khởi, thích thực, ai vãn, khốc tận ở mỗi phần tác giả luôn cố gắng phơi bày thực trạng đất nước bị giặc ngoại xâm đồng thời làm rõ hình tượng những người nghĩa sĩ Cần Giuộc anh hùng sẵn dàng hi sinh thân mình để bảo vệ đất nước.

Phần Lung khởi tác giả tái hiện khung cảnh bão táp của thời đại.

Hỡi ôi !

Súng giặc đất rền lòng dân trời tỏ

Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao ; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất nhưng tiếng vang như mõ

Khung cảnh bão táp của thời đại xã hội Việt Nam đầu những năm 60 của thế kỉ XIX hiện lên đó là cuộc đụng độ giữa thế lực xâm lược là thực dân Pháp và ý chí bất khuất bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Không gian vũ trụ được tái hiện rộng lớn trời đất, các động từ rền, tỏ gợi sự khuếch tán âm thanh, sự rực rỡ của ánh sáng.  Tác giả còn nêu lên tinh thần hi sinh vì nghĩa lớn của những người nông dân áo vải, tuy họ đã mất nhưng những gì họ để lại cho cuộc đời vẫn được khắc sâu trong trái tim nhiều người, sự hi sinh chiến đấu của họ khiến người người ghi nhớ mãi không bao giờ quên, những chiến công của họ sẽ mãi mãi được nhớ đến được vinh danh.

Phần thích thực tác giả tái hiện hình ảnh những người nghĩa sĩ Cần Giuộc chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm, hình tượng của họ trở nên bất tử sống mãi với lịch sử với thời gian.

Nhớ linh xưa:

Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó

Chưa quen cung ngựa, chưa tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng nên hình ảnh cụ thể về những người nông dân áo vải, họ xuất thân nghèo khó, tác giả sử dụng từ cui cút nhấn mạnh bản chất thật thà, chất phác của những người nông dân, mục tiêu của họ chỉ là có một gia đình nho nhỏ, một mái ấm suốt đời để học có thể sinh sống và vun đắp cho mái ấm đó, họ chỉ sợ những ngày sống nghèo khó, cơ cực khó mà ngẩng mặt lên được với người đời, những người nông dân châm lấm tay bùn ấy chưa bao giờ tiếp xúc với binh đao, giáo mác nên lĩnh vực quân sự vốn vô cùng xa lạ đối với họ. Cuộc sống của họ chỉ quanh quẩn với cái cày,  con trâu, với ruộng nương. Chính những chi tiết đó khiến cho chúng ta nhớ đến bài Đồng chí của Chính Hữu khi miêu tả xuất thân của những anh bộ đội cụ Hồ:

Xem thêm:  Soạn bài Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Ruộng nương anh gửi bạn than cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lạy

Áo anh rách vai, quẩn tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá, chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Thì đây văn học trung đại đã miêu tả cặn kẽ, tỉ mỉ những người anh hùng xuất thân ở tầng lớp thấp nhất của xã hội. Nguyễn Đình Chiểu đã đối lập những công việc đồng áng hàng ngày với những việc binh đao, tác giả làm nổi bật lên sự khó khăn của những người nông dân áo vải khi phải chuyển đổi sang một nghề hoàn toàn xa lạ đối với mình: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Đằng sau những người nông dân chất phác thật thà ấy, ẩn chứa những con người anh hùng với trái tim quả cảm và lòng căm thù kẻ thù sâu sắc qua cách nói thật dung dị giản đơn, đậm chất dân dã của tác giả: ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Lòng căm thù ấy càng sâu sắc hơn khi tác giả viết tiếp:

Bữa thấy bòng bong cha trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ông khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn duổi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phan này xin ra sức đoạn kình; chẳng them trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ

Từ việc nhận thức được tình hình đất nước đang trong cảnh nguy nan, những người nông dân áo vải đã bộc lộ sự tức giận, căm thù của mình trước sự cao ngạo của kẻ thù, tác giả đã sử dụng những động từ rất mạnh để nhấn mạnh sự căm tức của những người nông dân áo vải; muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ, há để ai chém rắn đuổi hươu, đâu dung lũ treo dê bán chó. Từ đó dấy lên quyết tâm đánh đuổi kẻ thù: phen này ra sức đoạn kình, chuyến này dốc ra tay bộ hổ. Sự thay đổi chuyển biến về nhận thức và hành động chứng tỏ nghĩa quân có tình yêu nước nồng nàn tha thiết và lòng căm thù quân giặc sâu nặng, đồng thời bộc lộ trách nhiệm cao cả của mình đối với đất nước, và quá trình để từ những người dân châm lấm tay bùn trở thành những người lính tinh nhuệ  đã được Nguyễn Đình Chiểu viết rất cặn kẽ và tỉ mỉ, điều này khiến cho những ai đọc văn tế đều dấy lên sự khâm phục đối với những người nông dân họ đã bỏ qua mặc cảm tự ti, bỏ qua nguồn gốc xuất thân để đến với cuộc chiến tranh bằng tình yêu quê hương tổ quốc, bằng lòng căm thù quân giặc sâu sắc, hình tượng những người lính đã được hiện lên dưới ngòi bút của nhà thơ:

Khá thương thay!

Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp dân lân mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; chin chục trận binh thư, không chờ bày bố

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to xô cửa xông vào liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng sung nổ.

Vẻ đẹp hào hùng của người lính Cần Giuộc đã được tác giả làm nổi bật: những người lính tự biết mình không phải là lính chuyên nghiệp nhưng vì nghĩa vụ, vì trọng trách đất nước giao phó nên họ sẵn sàng hi sinh thân mình để có thể đóng góp bảo vệ sự an toàn cho đất nước. Họ lập ra những ban võ nghệ để tập trận, họ tận dụng tât cả những gì mình có trong tay để làm vũ khí, họ bất chấp sức mạnh hiện đại cả quân thù tất cả đều chung một mục đích kaf giết kẻ thù, bảo vệ sự bình yên cho đất nước. Vẻ đẹp của những nghĩa sĩ Cần giuộc được thể hiện ở khía phách hiên ngang, ngang tàng không sợ trời đất, không run rẩy trước kẻ thù, vẻ đẹp ấy còn toát lên ở sự cương trực, bền gan bền chí trong quá trình đánh đuổi kẻ thù, dẫu rằng quân thù có mạnh, dẫu rằng chúng được trang bị những vũ khí hiện đại nhưng không thể ngăn được lòng quyết tâm, và ý chí chiến đấu đến cùng của những người lính, họ xứng đáng là những người con vĩ đại của dân tộc, họ xứng đáng được khắc ghi sâu trong trái tim của hàng triệu người dân Việt Nam. Để khắc họa hình ảnh quả cảm của những người anh hùng trên, Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng hệ thống từ ngữ: nhiều động từ mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, , , ó…), dứt khoát (đốt xong, chém đặng, trối kệ), nhiều khẩu ngữ nông thôn và từ ngữ mang tính địa phương Nam Bộ (nhà dạy đạo, như chẳng có, thằng Tây, hè, ó…)Phép đối từ ngữ (trống kì – trống giục, lướt tới -xông vào, đạn nhỏ – đạn to, đâm ngang – chém ngược…), đối ý (ta: manh áo vải, ngọn tầm vông – địch: đạn nhỏ, đạn to, tàu thiếc, tàu đồng; vũ khí thô sơ: rơm con cúi, lưỡi dao phay – chiến thắng lớn: đốt xong nhà dạy đạo, chém rót đầu quan hai), đối thanh bằng – trắc (kia – nọ, kì – giục, tới – vào, nhỏ – to…). Nguyễn Đình Chiểu đã phát hiện và ngợi ca phẩm chất cao quí tiềm ẩn sau manh áo vải, sau cuộc đời lam lũ của người nông dân là lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Hình tượng nhân vật được đặt trong một kết cấu chặt chẽ, hợp lí. Ngòi bút hiện thực kết hợp với chất trữ tình sâu lắng, ẩn chứa trong từng câu chữ, từng hình ảnh thể hiện nỗi cảm thông, niềm kính phục và tự hào của tác giả. Từ ngữ tinh tế, chính xác, có sức gợi cảm. Nhiều biện pháp tu từ được sử dụng thành công, tạo được hiệu quả nghệ thuật cao.

Xem thêm:  Phân tích và nêu cảm nhận về đoạn trích Cha con nghĩa nặng – Văn mẫu lớp 11 đặc sắc nhất

Phần ai vãn tác giả bày tỏ niềm xót thương đối với các nghĩa sĩ Cần giuộc:

Nhưng nghĩ rằng:

Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta ; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Vì ai khiễn quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương ; vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.

Sống làm chi theo quân tả đạo, quang vùa hương, xô bàn độc, thấy lại càng thêm buồn ; sống làm chi ở lính mã tà, chía rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sau tỉnh chúng đều khen ; thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Tác giả bày tỏ niềm xót thương của mình đối với các nghĩa sĩ khi khi sự nghiệp còn đang dang dở, chí nguyện chưa thành đồng thời là nỗi xót xa của những gia đình mất người thân, tổn thất không thể bù đắp đối với mẹ già, vợ trẻ. Đó là tiếng khóc uất ức nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước, là niềm cảm phục và tự hào đối với những người dân thường đã dám đứng lên bảo vệ từng tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo, đã lấy cái chết để làm rạng ngời chân lí cao đẹp của thời đại thà chết vinh còn hơn sống nhục. Đồng thời tác giả biểu dương công trạng của người nông dân – nghĩa sĩ, đời đời được Tổ quốc ghi công. Tiếng khóc không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người nghĩa sĩ. Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống không chỉ gợi nỗi đau thương mà cao hơn nữa, còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ.

Phần khốc tận tác giả trở lại hiện thực đau khổ khóc thương và ngợi ca tấm lòng thiên dân của nghĩa sĩ. Nỗi đau sâu nặng (Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo) không chỉ trong lòng người mà dường như còn bao trùm khắp cỏ cây, sông núi (sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình, chùa Tông Thạnh, Bến Nghé, Đồng Nai)- tất cả đều nhuốm màu tang tóc, bi thương.

Bằng cách sử dụng chất trữ tĩnh, cộng với tương phản và cấu trúc của thể văn biền ngẫu,

cùng với ngôn ngữ vừa trang trọng vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ. Tác giả đã tạo nên hình tượng người nông dân hiện lên với vẻ đẹp bi tráng và đây cũng là lần đầu tiên người nông dân được có mặt ở vị trí trung tâm trong văn học Việt Nam và hiện lên với vẻ đẹp trang trọng vốn có. Nguyễn Đình Chiểu phải là người am hiểu và yêu mến sâu sắc tính cách và con người Nam Bộ thì mới có thể tạo nên những trang văn tế thấm đượm lòng người đến vậy, đây là một trong những tác phẩm đặc sắc thể hiện vị trí vững chãi của tác giả trong văn học Việt Nam.

Hoàng Bạch Diệp

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment