Home Những bài văn hay lớp 12 [Văn mẫu học sinh] Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

[Văn mẫu học sinh] Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Dàn ý chi tiết

1.

Hướng dẫn

Mở bài:

Nêu vấn đề nghị luận: hình tượng sóng trong bài thơ Sóng.

2. Thân bài:

2.1. Luận điểm 1: Khái quát về tác giả, tác phẩm.

_Tác giả Xuân Quỳnh:

+ nhà thơ nữ tiêu biểu của thời kì chống Mĩ.

+thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

_Bài thơ “Sóng”:

+ viết năm 1967 nhân chuyến đi thực tế của Xuân Quỳnh ở vùng biển Diêm Điền, Thái Bình.

+viết trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ ác liệt và tiếng thơ Sóng được coi là bông hoa tình yêu nở dọc chiến hào.

+ bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” xuất bản năm 1968.

2.2. Luận điểm 2: Hình tượng sóng trong bài thơ.

Khái quát về hình tượng sóng.

_là hình tượng trung tâm của toàn bài.

+“sóng” là ẩn dụ của “em”- người con gái khi yêu.

+những chuyển động, đổi thay của sóng là thay cho tiếng lòng của người con gái.

+nhịp sóng cũng là nhịp lòng của người con gái đang rạo rực trong tình yêu của mình.

Hình tượng sóng trong toàn bài thơ.

* Những cảm nhận về sóng biển và tình yêu.

_Khổ 1:

+ sóng được nói đến trong hành trình tìm đến bến bờ trong những suy tư- những trạng thái đối nghịch “ dữ dội, dịu êm; ồn ào, lặng lẽ”. Con sóng đang trong hành trình đi tìm nơi nó thuộc về với những biến hóa tâm trạng như người con gái trong tình yêu.

+ sóng được đặt trong phạm vi không gian “sông” và “bể”. Trong không gian nhỏ hẹp đó, sóng không thể biểu hiện được hết sức mạnh và khả năng của nó nên sóng đã thực hiện cuộc hành trình đến với không gian bao la, rộng lớn để được sống là mình trọn vẹn nhất, được thỏa thuê vẫy vùng.

_Khổ 2:

+”sóng” được gắn với phạm vi thời gian “ngày xưa, ngày sau”. Cái nhìn bao quát của nhà thơ đã khẳng định bản chất tồn tại trong sóng cũng giống như quy luật trong tâm hồn con người: luôn “khao khát” tình yêu luôn thường trực và “ bồi hồi trong ngực trẻ”.

* Trăn trở, suy tư về nguồn gốc của tình yêu.

_khổ 3+ khổ 4:

+ tác giả tạo ra một cuộc hội thoại giả tưởng giữa “em” và “biển lớn”.

+ điệp từ “em nghĩ” là những dòng suy nghĩ liên tiếp, luôn thường trực trong em.

+ câu hỏi tu từ về nguồn gốc của sóng biển “ Từ nơi nào sóng lên? Gió bắt nguồn từ đâu? Khi nào ta yêu nhau?” là những trăn trở kiếm tìm của người con gái đi tìm nguồn cội của sóng và cũng là nguồn cội của tình yêu.

* Nỗi nhớ thương của sóng biển, của tình yêu muôn đời

   _khổ 5:

+nỗi nhớ được biểu hiện gián tiếp qua hình tượng sóng với hai không gian biểu hiện là “dưới lòng sâu, trên mặt đất” và cả thời gian “ ngày, đêm”. Tình cảm nhớ thương da diết của sóng thì gián tiếp, kín đáo còn tình yêu, nỗi nhớ của em rất trực tiếp qua “lòng em, nhớ, trong mơ còn thức”.

_khổ 6:

+tình yêu của người phụ nữ dù có chia xa thì cũng vẫn tha thiết, rạo rực và chân thành với người mình yêu bất chấp không gian “phương Bắc, phương Nam” thì người con gái chỉ có một phương duy nhất là “phương anh”.

* Mượn quy luật của tự nhiên để nói về quy luật của tình yêu.

_khổ 7:

+ dẫu có muôn ngàn “con sóng” nhưng người con gái vẫn tin vào hạnh phúc thật sự. Đoạn thơ là hai hình ảnh đối lập giữa một bên là những các trở, những khó khăn còn một bên là nhiệt huyết, là tin tưởng hết lòng với bến bờ hạnh phúc.

_khổ 8:

+danh từ chỉ phạm trù thời gian: “cuộc đời, năm tháng” là thời gian sống, tồn tại của mỗi con người và là khoảng thời gian vật chất vận động và chảy trôi chứ không đứng yên. Nhà thơ đã sớm nhận ra, sớm chiêm nghiệm về sự hữu hạn của đời người, của tình yêu và hạnh phúc.

_ khổ 9:

+người con gái vẫn trong trạng thái băn khoăn về ước mong hiến dâng trọn vẹn cho tình yêu “làm sao” để “tan ra”. Và chính người con gái trong tình yêu hay chính nhà thơ nhận ra sự hòa mình, hết mình với tình yêu để vĩnh cửu và trường tồn.

2.3. Luận điểm 3: Đánh giá.

_Thông qua hình tượng sóng, tình cảm da diết, rạo rực mà nhà thơ muốn thể hiện trở nên kín đáo, nồng nàn, tinh tế hơn.

_Sóng là kết tinh cho tài năng nghệ thuật của Xuân Quỳnh trong việc sử dụng thành công thể thơ năm chữ cùng các biện pháp nghệ thuật độc đáo như so sánh, liệt kê, ẩn dụ, hoán dụ…

3. Kết bài

Khẳng định giá trị biểu đạt của hình tượng sóng trong toàn bài thơ.

[Văn mẫu học sinh] Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng

Bài văn tham khảo

Văn chương luôn phản ánh con người và thời đại một cách chân thực. Không phải ngẫu nhiên, Nam Cao lại viết được Chí Phèo và làng Vũ Đại, cũng không phải ngẫu nhiên mà thơ ca kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ lại là mảnh đất màu mỡ cất lên những tiếng thơ, lời văn đi cùng năm tháng. Như một hiện tượng lạ, như một màu sắc riêng, Sóng của Xuân Quỳnh không thuộc hoàn toàn về cái ngẫu nhiên nhưng lại mang bản chất của cái ngẫu nhiên của văn chương. Hình tượng sóng trong bài thơ cũng độc đáo như chính sự ra đời của Sóng và để lại những ấn tượng đọng mãi trong lòng người đọc.

Xuân Quỳnh là nữ tác giả tài hoa của thơ ca Việt Nam. Cuộc đời của bà là một bản nhạc buồn nhưng cái sau cùng đọng lại trong thơ Xuân Quỳnh lại là niềm tin yêu tha thiết với cuộc đời. Xuân Quỳnh sinh ra trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp nhưng sự trưởng thành của Xuân Quỳnh lại gắn với cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói của chính tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường. Ở Xuân Quỳnh, khát vọng sống, khát vọng yêu luôn gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn và đổ vỡ cùng với những dự cảm về sự bất trắc.

Sóng là tác phẩm thơ độc đáo của nữ sĩ Xuân Quỳnh được bà viết vào năm 1967, nhân chuyến đi tại vùng biển Diêm Điền, Thái Bình. Bài thơ Sóng đặc biệt bởi nó ra đời trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, được viết bởi trái tim người phụ nữ nồng ấm yêu thương. Khi mà các tác phẩm thơ thuộc thời kì này đều xoay quanh chiến tranh với chết chóc, hi sinh anh dũng của những người lính thì bài thơ là tiếng thơ tình yêu giàu trắc ẩn. Nó được coi là bông hoa nở “dọc chiến hào”. Sau được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” xuất bản năm 1968.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu để thấy được tâm trạng của một thanh niên say mê lí tưởng cách mạng

Sóng là hình tượng trung tâm của toàn bộ bài thơ. Trong thực tế nó là một thực thể tự nhiên nhưng đến với thơ ca, dưới ngòi bút của Xuân Quỳnh thì nó là ẩn dụ cho “em”- người con gái trong tình yêu. Khám phá của nhà thơ về “sóng” cũng chính là đi tìm tình cảm, tâm hồn của “em”. Trong mỗi khổ thơ, “sóng” lại khoác trên mình một diện mạo mới với những trăn trở, suy tư. Nhìn vào hình ảnh “sóng”, tình yêu và người con gái cứ nhẹ nhàng mà đi vào lòng bạn đọc.

Hai khổ thơ đầu là những lời bộc bạch chân thành cùng những cảm nhận về sóng biển và tình yêu:

 Dữ dội và dịu êm

 Ồn ào và lặng lẽ

 Sông không hiểu nổi mình

 Sóng tìm ra tận bể.

 Ôi con sóng ngày xưa

 Và ngày sau vẫn thế

 Nỗi khát vọng tình yêu

 Bồi hồi trong ngực trẻ.

Trong khổ thơ đầu tiên, sóng của đại dương đã hiện lên với nhiều đối cực khác nhau

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

 Đó là trạng thái thực của sóng: lúc “dữ dội”, “dịu êm” khi  “ồn ào”, “lặng lẽ. Khi biển lặng thì sóng êm đềm, dịu nhẹ; khi biển động thì sóng cuồn cuộn gầm gào. Quan hệ từ “và” cùng vị trí của những tính từ đã làm nổi bật sự chuyển động và chuyển hóa không ngừng của sóng theo thời gian. Hai câu thơ cũng chính là ẩn dụ nói về trạng thái tâm lý của người phụ nữ khi yêu: lúc cuồng nhiệt, lúc dịu dàng, sâu lắng. Tất cả sự đối lập tưởng chừng phi lí nhưng lại rất hợp lí với một trái tim yêu, say đắm và muốn hết lòng vì tình yêu. Hai câu thơ tiếp theo là sự bứt phá của sóng trong không gian nhỏ hẹp để tìm đến nơi rộng lớn hơn là biển cả tình yêu. Xuân Quỳnh đã thể hiện những băn khoăn và trăn trở:

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

Tác giả đưa hai môi trường tương phản nhau. Một bên là “sông”, khoảng không gian chật hẹp nhỏ bé nhưng là nơi khơi nguồn và tồn tại của sóng. Đối lập với không gian ấy là “bể” lớn, biển cả bao la, mênh mông của tình yêu. Sông và bể cũng chính là hìn hảnh ẩn dụ cho tình yêu, cho người đàn ông mà sóng muốn dâng hiến. Người con gái khao khát tìm được sự đồng điệu trong tâm hồn và sẽ vượt qua mọi chật chội để tìm đến với bờ anh của mình, chủ động tìm kiếm hạnh phúc. Đó cũng là quan niệm tình yêu mới mẻ, táo bạo người phụ nữ: chủ động tìm kiếm hạnh phúc thực sự cho mình, chủ động tìm kiếm bến đỗ bình yên.

Đến khổ thơ thứ hai, người con gái trong tình yêu đã nhìn nhận ra vẻ đẹp vĩnh hằng của tình yêu:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ.

Thời gian “ngày xưa” là chỉ quá khứ, “ngày sau” là trạng từ chỉ tương lai. Và dù có là quá khứ, hiện tại hay tương lai thì tình yêu vẫn mãi thủy chung, dạt dào và khát vọng tình yêu sẽ mãi trường tồn bất diệt. nó là khát vọng chính đáng của mỗi người, của mỗi trái tim. Và khát khao yêu và được yêu luôn “bồi hồi” nơi trái tim, tâm trí con người. Tính từ “bồi hồi” đã khẳng định khát khao luôn thường trực, luôn đong đầy. Đó cũng chính là quy luật vận động muôn đời vĩnh hằng của tình yêu.

Đứng trước biển cả bao la, cảm giác thông thường của con người là thấy mình nhỏ bé và trước hoàn cảnh đó, tình yêu chính là một điểm tựa để con người vơi bớt đi nỗi cô đơn. Lắng nghe tiếng sóng biển mênh mông, người con gái nghĩ về người yêu và tình yêu của mình. Tất cả những suy nghĩ đó đều được khởi nguồn từ hình ảnh của sóng biển bao la. Biển cả có muôn  nghìn con sóng và những con sóng đó bắt nguồn từ nơi nào, đó luôn là một câu hỏi mà tác giả băn khoăn đi tìm lời giải. Tìm nguồn gốc của tình yêu và sự bí ẩn của tình yêu.

 Trước muôn trùng sóng bể  

 Em nghĩ về anh em

 Em nghĩ về biển lớn

 Từ nơi nào sóng lên?

Nếu ở hai khổ thơ đầu, tác giả miêu tả cuộc hành trình kì công, quyết liệt của sóng từ sông ra bể thì đến khổ thơ này, con sóng đã hoàn thành cuộc hành trình của mình để đến trước biển cả tình yêu. Vì vậy những khát khao muốn đi tìm những bí ẩn của sóng của tình yêu là một cảm xúc tất yếu của con người. Tình yêu luôn bí ẩn, là những cảm xúc bất chợt và khó có thể dùng lý trí để giải đáp để trả lời được những câu hỏi về khởi nguồn của tình yêu. Điệp khúc “Em nghĩ về” trong lời thơ đã khắc sâu, nhấn mạnh và làm nổi bật niềm thao thức, nỗi trăn trở của “em” khi đối diện trước biển lớn. Với biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, điệp từ, lặp cấu trúc đã thể hiện trực tiếp khao khát của người phụ nữ khi đến với tình yêu. Vì vậy, câu thơ “Từ nơi nào sóng lên?” đã bật lên với bao trăn trở. Khao khát đi tìm cội nguồn của tình yêu luôn ám ảnh, thường trực như chành trình tìm đến tình yêu chân chính.

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

 Em cũng không biết nữa

 Khi nào ta yêu nhau?

Nhà thơ tự hỏi lòng mình về nguồn cội cuộc sóng và đã đi tìm được lời lý giải “sóng bắt đầu từ gió” nhưng “gió bắt đầu từ đâu” thì nhà thơ lại không tìm được câu trả lời. Chuyện tình yêu cũng vậy, luôn là điều bí ẩn từ bao đời nay mà con người luôn khao khát khám phá. Chuyện tình yêu cũng như chuyện sóng gió ở trong lòng, ở ngay trong tầm tay con người. Nhưng lý giải được sự bí ẩn của nó lại là điều không thể. Bí ẩn là vậy nhưng từ bao đời nay, ai ai cũng muốn khám phá, muốn tìm hiểu, lý giải nguồn gốc đắm mình trong tình yêu. Ngay đến Xuân Diệu- ông hoàng thơ tình cũng băn khoăn “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”. con người càng đi tìm hiểu thì tình yêu dường như càng trở nên bí ẩn hơn và không ai có thể truy tìm được nguồn cội của nó.

Xem thêm:  Em có nhận xét gì về kết hợp miêu tả với biểu cảm trong bài tùy bút Mùa xuân của tôi?

 Em cũng không biết nữa

 Khi nào ta yêu nhau?

 Nếu không cắt nghĩa được vì sao ta yêu nhau thì cũng không phải điều quan trọng. Điều mà Xuân Quỳnh muốn khẳng định là ta đã yêu nhau. Sự xuất hiện của những câu nghi vấn kết hợp những câu phủ định trong hai khổ thơ trên thể hiện sự bối rối, bất lực của nhà thơ trong việc khám phá nguồn cội của tình yêu. Và càng khám phá thì càng nhận ra rằng: tình yêu luôn là ẩn số mà mỗi người phải dùng trái tim và tâm hồn mình để cảm nhận nó chứ không thể dùng lý trí để cắt nghĩa, lý giải.

Hai khổ thơ thứ năm và thứ sáu là nỗi nhớ trong tình yêu tha thiết, nồng nàn và khẳng định tình yêu thủy chung, son sắt.

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt đất

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nhớ

Hướng về anh một phương.

Tình yêu luôn đồng hành cùng nỗi nhớ và vì thế, nỗi nhớ là biểu hiện rõ nét, tinh tế, sâu sắc nhất của tình yêu. Khổ thơ này có hình thức đặc biệt nhất trong bài thơ bởi nó kéo dài đến sáu dòng thơ trong khi những khổ khác chỉ có bốn dòng. Phải chăng cảm xúc dâng trào dâng mãnh liệt, nỗi nhớ đã da diết trong tim phần nào đã phá vỡ mọi khuôn khổ?  Sự xuất hiện của điệp từ “con sóng” đã nhấn mạnh và làm rõ niềm thương, nỗi nhớ của con sóng khi phải xa bờ. Nghệ thuật điệp từ, lặp cấu trúc, đối lập (dưới lòng sâu, trên mặt đất), liệt kê, nhân hóa đã thể hiện những cảm nhận tinh tế về sóng ở nhiều tầng bậc, ở nhiều không gian khác nhau. Và dù là dưới lòng sâu hay trên mặt nước hay ở bất kỳ nơi đâu đi chăng nữa thì con sóng cũng luôn nhớ bờ, con sóng khi xa bờ mang trong mình một nỗi nhớ khôn nguôi.

 Ngày đêm không ngủ được.

Bốn dòng thơ với nhịp thơ tràn từ dòng này sang dòng khác, giống như tâm trạng  và cảm xúc yêu đã vượt qua mọi giới hạn. Một trong những đặc trưng  của tình yêu là khi chia xa thì luôn nhớ nhung. Điệp khúc “con sóng” như một dòng chảy vô tận làm cho nỗi nhớ trở lên miên man. Nỗi nhớ của sóng tràn ngập cả không gian “dưới lòng sâu, trên mặt nước”, tràn ngập cả thời gian “ngày, đêm”. Con sóng thao thức không ngủ được vì nhớ bờ cũng giống như em luôn thao thức vì nhớ anh. Khi chia xa lòng em nhớ đến anh “Cả trong mơ còn thức”. Trong thực tế, sóng không bao giờ ngủ vì nếu ngủ thì con sóng không tồn tại nữa. Cũng như trong tình yêu, không còn nỗi nhớ là tình yêu đã chết. Nỗi nhớ của sóng dành cho bờ tưởng như vô cùng mãnh liệt và da diết nhưng nỗi nhớ của em với anh còn da diết và sâu đậm hơn nhiều. Không phải em nhớ anh mà “lòng em nhớ đến anh”, nghĩa là cả tâm hồn, trái tim em đều hướng về anh. Nỗi nhớ anh tràn ngập trong không gian, khắc khoải theo thời gian, thiết tha, mãnh liệt trong tâm hồn, thường trực cả khi thức cũng như khi ngủ, xâm nhập vào cả trong giấc mơ của em. Nỗi nhớ cồn cào, da diết không thể nào yên, cuồn cuộn dạt dào như là sóng biển triền miên vô tận. Lời thơ với thủ pháp tăng tiến, ẩn dụ đã diễn tả những nhớ thương thường trực trào dâng trong tim và tâm hồn nhà thơ. Sóng nhớ bờ thiết tha mãnh liệt còn em nhớ anh say đắm nồng nàn. Sóng vỗ bờ ngày đêm, em nhớ anh khi thức cũng như khi mơ. Người phụ nữ với một trái tim yêu nồng nàn, mãnh liệt, thường trực, thao thức sáng cả không gian, thường trực trong cả ý thức lẫn tiềm thức. Xuân Quỳnh cũng đã từng khẳng định sức mạnh của tình yêu:

 Em trở về đúng nghĩa trái tim em

 Là máu thịt đời thường ai chẳng có

 Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa

 Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.

 Có thể nói, trong lịch sử thơ ca Việt Nam, sau thời đại của Hồ Xuân Hương hơn một thế kỷ, phải đến Xuân Quỳnh, ta mới được nghe một tiếng thơ táo bạo thể hiện khát khao yêu thương của người phụ nữ. Xuân Quỳnh dám mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình, dám thể hiện nhớ nhung mãnh liệt của mình trong tình yêu một cách tự nhiên.Với điệp từ kết hợp với điệp cấu trúc, tương phản đối lập đã giúp nhà thơ khái quát lên các không gian địa lý của đất trời để diễn tả sự chân thành của một người phụ nữ đối với tình yêu. Khi xa người yêu họ không chỉ nhớ mà còn luôn lo lắng.

 Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

 Nơi nào em cũng nhớ

Hướng về anh một phương.

 Nhà thơ Xuân Quỳnh kín đáo gợi lên những xa xôi, cách trở trong tình yêu. Giống như sóng xuôi ngược giữa đại dương bao la, người phụ nữ cũng ngược xuôi vất vả trên đường đời theo đuổi khát vọng tình yêu và gìn giữ nó. Khát vọng tình yêu luôn thường trực trong tâm hồn, trong trái tim và người phụ nữ luôn hướng về người mình yêu thương. Hai từ “ngược, xuôi” ẩn chứa một cảm giác lo âu trước những biến động của cuộc đời. Nhưng người phụ nữ vẫn luôn “hướng về anh một phương”. Nếu phương Bắc, phương nam là  không gian địa lý gợi lên những cách trở của đất trời thì phương anh là không gian của tâm tưởng. Giữa cuộc đời khó khăn trắc trở, tình yêu hiện lên đẹp đẽ nhưng cũng thật mong manh. Vì thế nó khiến người phụ nữ lúc nào cũng lo âu thấp thỏm. Với Xuân Quỳnh, tình yêu là một lẽ sống thiêng liêng và nhà thơ luôn trân trọng tình yêu, hướng tới người mà trong tâm hồn bà luôn yêu thương, luôn khát khao được chở che, vỗ về trong một vòng tay bao dung, độ lượng. Xuân Quỳnh đã tìm tới sóng biển, sóng  biển sóng trở thành phương tiện để nhà thơ bày tỏ suy tư về nỗi nhớ trong tình yêu về sự thủy chung son sắt.

Với Xuân Quỳnh cuộc đời và tình yêu giống như biển lớn đầy bão tố phong ba, nhiều sóng gió trắc trở đòi hỏi con người phải nỗ lực hết mình mới có thể vượt qua:

Xem thêm:  Giải thích đoạn trích: “ Hồn Trương Ba bần thần nhập… ôm đầu”

 Ở ngoài kia đại dương

 Trăm ngàn con sóng đó

Con nào chẳng đến bờ

 Dẫu muôn trùng cách trở.

Khổ thơ chứng minh muộn vàn cách trở, khó khăn, thử thách mà con sóng cần vượt qua trước cuộc đời cũng giống như con người với tình yêu. Nhưng vượt lên trên cách trở đó là niềm tin mãnh liệt vào khả năng tới bờ của con sóng cũng giống như tình cảm của “em” hướng đến anh. Dù có nhiều gian lao, dù có muôn vàn chông gai nhưng cuối cùng cũng đến được bến bờ hạnh phúc “Con nào chẳng tới bờ”. Ở tuổi 25 căng tràn sức sống, còn dào dạt niềm tin tình yêu với cuộc đời, nhà thơ Xuân Quỳnh luôn tin tưởng vào tình yêu thủy chung và sự chân thành cùng sức mạnh của tình yêu có thể vượt qua mọi bão tố, phong ba để đến hạnh phúc thật sự. Xuân Quỳnh viết bài thơ năm 1967 khi bà đã trải qua những đau đớn những đổ vỡ trong tình yêu. Nhưng người phụ nữ ấy vẫn hồn nhiên, vẫn tha thiết yêu đời và tràn ngập niềm tin vào tương lai. Xuân Quỳnh luôn tin vào cái đích cuối cùng của tình yêu đó là hạnh phúc và chỉ khi đủ dũng cảm để vượt qua cái chật chội nhỏ hẹp đấy thì người ta mới được hạnh phúc.

 Nhà thơ Xuân Quỳnh mượn quy luật tất yếu của sóng biển ngoài khơi để diễn tả quy luật muôn đời của tình yêu. Dù ở đâu, đi đâu, về đâu, dù có bao nhiêu khó khăn thì những người yêu nhau chân thành cũng luôn hướng về nhau và đến được với nhau.

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa.

Nhà thơ đã đối lập “cuộc đời” với “năm tháng” để làm rõ sự đối lập, sự hữu hạn mong manh của con người với vòng tuần hoàn của tự nhiên, của thời gian. Trong sự hữu hạn đó, làm thế nào để có một tình yêu bất tử, làm thế nào để trường tồn mãi cùng thời gian. Xuân Quỳnh đã bộc lộ những lo lắng, những dự cảm trước những cái mong manh hữu hạn của đời người của tình yêu trong đoạn thơ thứu tám. Đoạn thơ trở nên trầm lắng suy tư được thể hiện qua những cặp từ đối lập: tuy, vẫn, dẫu vẫn,vừa tạo thành kết cấu tương phản, vừa để khẳng định sự lo lắng trong lòng nhà thơ đang dâng lên. Đứng trước không gian bao la, đứng trước đời người dài rộng, người phụ nữ luôn cảm thấy cái tôi của mình nhỏ bé, hữu hạn mong manh. Người phụ nữ luôn ý thức được sự chảy trôi của thời gian “năm tháng vẫn đi qua” và sự vận động không ngừng của sự vật, của không gian “mây vẫn bay về xa” càng làm nhà thơ thêm lo âu, phấp phỏng trước cái mong manh của hạnh phúc, trước sự chia xa của cuộc đời. Vì vậy mà khát vọng

 Làm sao được tan ra

 Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

 Để ngàn năm còn vỗ.

 Khổ thơ thể hiện khao khát hướng về tương lai, khát vọng của con sóng muốn hóa thân vào biển lớn. Con sóng muốn được “tan ra thành trăm con sóng nhỏ”, muốn hòa cái tôi của mình vào biển lớn tình yêu, muốn tử bỏ dòng sông nhỏ bé, chật chội để tìm ra biển lớn. Bởi chỉ có ở ngoài biển cả bao la, con sóng mới được là chính mình, mới được làm những điều mà mình khao khát. Khát  vọng của sóng chính là khát vọng được hòa nhập tình yêu riêng tư nhỏ bé của mình vào tình yêu thương lớn lao của mọi người của toàn nhân loại. Khách khao này làm ta liên tưởng tới khát khao của Thanh Hải

 Ta nhập vào hòa ca

 Một nốt trầm xao xuyến.

 Nếu ở khổ thơ đầu, biển là hiện thân của một không gian mênh mông, vô tận, là chân trời mơ ước, là nơi con sóng thể hiện những khát vọng lớn lao của mình thì ở đây, Xuân Quỳnh gọi là biển lớn tình yêu nghĩa là biển không chỉ là đại dương mà còn là cuộc đời, là thế giới rộng lớn của tình yêu. Nếu hai chữ “ngàn năm” chỉ thời gian vĩnh viễn muôn đời thì hai chữ “còn vỗ” khẳng định sự tồn tại của sóng cũng là nhịp đập trong trái tim. Trong tình yêu, con người khao khát  mãi tồn tại và bất tử cùng thời gian. Sóng là hiện thân của em,  nhà thơ mới khẳng định tình yêu của em cho anh cũng giống như con sóng tồn tại vĩnh hằng bất biến, sẽ thủy chung son sắt và “biết yêu anh cả khi chết đi rồi”. Khổ thơ trên thể hiện khát vọng mãnh liệt, nồng nàn, thủy chung muốn tồn tại mãi cùng thời gian “năm tháng” của một trái tim yêu thiết tha, chân thành. Người con gái luôn muốn yêu thương và khát khao đến cháy bỏng được sống, được yêu em, được cảm thông được che chở, được dâng hiến được hi sinh và sống hết mình trong tình yêu cao cả vĩnh hằng.

Bài thơ Sóng chính là lời tự hát chân thành của Xuân Quỳnh về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu, vượt lên tất cả mọi trở ngại và rào cản để đi theo khát vọng lớn lao, cao cả. Qua hình tượng sóng người phụ nữ không chỉ thể hiện được tình yêu của mình mà đó còn là tiếng nói ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ khi yêu cá tính, bản lĩnh. Người phụ nữ khi yêu thì luôn tha thiết, chân thành luôn có niềm tin vào mãnh liệt vào sự bất diệt, thủy chung trong tình yêu. Không có một hình tượng nào đủ để diễn tả những cảm xúc tình yêu tinh tế như sóng. Sóng dưới ngòi bút Xuân Quỳnh được thỏa sức vẫy vùng trong niềm yêu và thơ mộng. Nhà thơ Xuân Diệu thì gắn sóng với người con trai, với sự mạnh mẽ, táo bạo nhưng Xuân Quỳnh thì chọn sóng làm biểu trưng cho người phụ nữ với tình yêu và cũng rất thành công trong việc xây dựng hình tượng sóng.

Thơ là khúc nhạc tâm tình của tâm hồn nhưng không phải tiếng thơ, hình ảnh thơ nào cũng đủ lôi cuốn tâm hồn bạn đọc. Chính những mềm mại, dung dị rất đỗi Xuân Quỳnh lại càng làm người ta thêm yêu, thêm mến tài năng của người con gái ấy. Tiếng thơ sóng, hình tượng sóng độc đáo trong tình yêu mãi đi vào những trang thơ và là nguồn cảm hứng bất tận cho một tình yêu đẹp sống mãi cùng thời gian.

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment