Home Những bài văn hay lớp 12 [Văn mẫu học sinh] Phân tích khổ thơ thứ ba bài thơ Tây Tiến

[Văn mẫu học sinh] Phân tích khổ thơ thứ ba bài thơ Tây Tiến

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích khổ thơ thứ ba bài thơ Tây Tiến

Dàn ý chi tiết

1)

Hướng dẫn

Mở bài:

Giới thiệu khái quát về khổ thơ thứ ba bài Tây Tiến.

2) Thân bài:

Luận điểm 1) Khái quát về tác giả, tác phẩm:

– Tác giả Quang Dũng:

 + nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp

 + người nghệ sĩ đa tài với khả năng vẽ tranh, làm thơ, viết nhạc.

 + tập thơ tiêu biểu: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…

– Bài thơ Tây Tiến:

+ một trong những tác phẩm tiêu biểu của Quang Dũng.

+ Tây Tiến là tên một đoàn quân được thành lập vào năm 1947 với nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt Nam và Quang Dũng là đại đội trưởng của binh đoàn Tây Tiến.

   + tên ban đầu là Nhớ Tây Tiến nhưng sau đó được tác giả sửa lại thành Tây Tiến

   + được sáng tác vào mùa xuân năm 1948, một năm sau khi tác giả chuyển sang đơn vị bộ đội khác.

   + cảm hứng bao trùm toàn bộ bài thơ là nỗi nhớ.

Luận điểm 2)  Bức chân dung tự họa của người lính Tây Tiến vừa bi tráng, vừa lãng mạn.( phân tích khổ thơ thứ 3).

_hai câu đầu: chân dung ngoại hình lạ thường

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

+ đoàn binh với mái đầu trọc không mọc tóc.

+ làn da xanh xao xanh màu lá.

+nét dị thường ấy phản ánh sự khắc nghiệt, khó khăn về thuốc men, lương thực, thực phẩm.

+ người lính ốm mà không yếu với nét dữ oai hùm– ẩn dụ về sức mạnh đoàn quân Tây Tiến.

_ hai câu sau: tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến giữa chiến tranh ác liệt.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

+ mắt trừng là đôi mắt mở to, đầy cảnh giác.

+ mộng qua biên giới là giấc mộng lập công, giấc mộng chiến thắng và sớm ngày dành được tự do.

+ mơ về Hà Nội với dáng kiều thơm: người chiến sĩ Tây Tiến phần lớn là thanh niên trí thức xuất thân từ thủ đô, ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc. Giấc mơ của họ không phải sự bi lụy mà là động lực để người lính vững tin trong những tháng ngày gian khổ.

_hai câu tiếp: Lí tưởng sống cao đẹp, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

+ sử dụng hầu hết từ Hán Việt tăng sự trang trọng cho câu thơ và giảm bớt sự bi thương trước mất mát, hi sinh của người lính Tây Tiến.

+ rải rác: số lượng ít ỏi, không tập trung trên một khu vực mà là rừng sâu biên giới ít có người qua lại, không có điều kiện hương khói.

+ chẳng tiếc cách nói ngang tàng, ngạo nghễ và đầy tự tin.

+ đời xanh là cuộc đời trẻ với bao hi vọng và hoài bão.

[Biết trước cái khắc nghiệt của chiến tranh nhưng người lính không ngần ngại hi sinh để lên đường vì lí tưởng, vì độc lập, tự do của tổ quốc.

_hai câu cuối: Sự hi sinh cao đẹp của người lính.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

+ áo bào là chiếc áo lính cá anh đang mặc. Điều kiện chiến tranh khắc nghiệt, thiếu thốn đến không có cả chiếu để bọc thi thể người lính đã hi sinh.

+ về đất nói giảm, nói tránh để giảm bớt đau thương và cũng là sự ngợi ca, trân trọng dành cho người anh hùng của quê hương đất nước.

Xem thêm:  Em hãy viết bài văn để bàn luận về câu nói Vật chất có làm nên con người bạn ?

+ Sông Mã gầm lên khúc độc hành là sự nghiêng mình tiễn đưa đầy thành kính với các anh trong khúc hùng ca sông Mã.

=> Chỉ với tám câu thơ mà chân dung anh bộ đội cụ Hồ đã được khắc họa rõ nét dưới ngòi bút của Quang Dũng. Chân dung đó là chân dung của những người chiến binh sống mãi cùng non sông, đất nước.

Luận điểm 3) Đánh giá về nghệ thuật, nội dung.

_ Sử dụng thành công thủ pháp nhân hóa, ẩn dụ, từ ngữ Hán Việt, nói giảm, nói tránh. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh gợi tả.

_ Chân dung ngoại hình, chân dung tinh thần của người lính Tây Tiến trong khí thế hiên ngang, trong niềm tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của dân tộc.

3) Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp người lính Tây Tiến trong khổ thơ thứ ba nói riêng và toàn bài thơ nói chung.

[Văn mẫu học sinh] Phân tích khổ thơ thứ ba bài thơ Tây Tiến

Phân tích khổ thơ thứ ba bài thơ Tây Tiến

Bài văn tham khảo

Thơ ca kháng chiến là mảng đề tài xuất sắc của thơ ca Việt Nam. Những vần thơ của một thời kháng chiến oanh liệt dưới ngòi bút của Quang Dũng, Chính Hữu, Phạm Tiến Duật… đã tái hiện lại hùng ca một thời chiến đấu gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc Việt Nam. Đã có bao lời thơ kháng chiến ngân vang mang theo hơi thở con người và thời đại. Tây Tiến của Quang Dũng là một bản nhạc thơ như vậy, nhất là trong đoạn đoạn thơ thứ ba, ta càng thêm hiểu, thêm yêu anh bộ đội cụ Hồ cùng những ngày tháng chiến đấu oanh liệt của dân tộc:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá giữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Quang Dũng là một nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Không chỉ thành công với viết thơ. Ông là người nghệ sĩ rất mực đa tài với khả năng vẽ tranh, sáng tác nhạc. Thơ ông mang hơi thở hồn hậu, phóng khoáng bởi luôn có sự kết hợp hài hòa giữa thơ, nhạc, họa. Nói về Quang Dũng, chúng ta nhắc đến người lính dành cả cuộc đời cho non sông, đất nước. Thơ ca Quang Dũng từ tập thơ Mây đầu ô đến Thơ văn Quang Dũng đều chung một niềm yêu, một nỗi nhớ đến khắc khoải đồng chí, đồng đội cùng người xưa chốn cũ.

Tây Tiến là tác phẩm thơ tiêu biểu của Quang Dũng và có vị trí đặc biệt với nhà thơ. Đó là tên của binh đoàn mà Quang Dũng làm đại đội trưởng, gắn với kỉ niệm về tình đồng chí, đồng đội. Bài thơ được viết năm 1948, là một năm sau khi nhà thơ dời Tây Tiến chuyển sang một đơn vị khác. Ban đầu bài thơ có tên Nhớ Tây Tiến, sau đó chính Quang Dũng đã bỏ đi chữ nhớ vì không cần đến nhớ, bạn đọc cũng đã cảm nhânh được cảm hứng chủ đạo của toàn bài thơ là nỗi nhớ.

Nếu như ở hai khổ thơ trên, hình ảnh người lính Tây Tiến mới chỉ thấp thoáng hiện ra qua con đường hành quân gian khổ trên núi rừng miền Tây, qua những kỉ niệm với con người, với mảnh đất Tây Bắc thì ở đoạn thơ thứ ba, hình tượng tập thể đoàn binh Tây Tiến được tái hiện một cách cụ thể, trực tiếp và rõ nét từ dáng vẻ bên ngoài cho tới vẻ đẹp tinh thần bi tráng bên trong. Đoạn thơ thứ ba đã khắc họa thành công bức tượng đài cao đẹp, độc đáo về những người lính vô danh trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp.

Xem thêm:  Nghị luận về ý kiến: Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai, chỉ có chính bạn mới lựa chọn được con đường đúng cho mình

Hai câu thơ đầu tiên của đoạn thơ thứ ba miêu tả chân dung ngoại hình người lính:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Hình ảnh đoàn binh Tây Tiến hiện lên với những nét vẽ ngoại hình dị thường, lạ lẫm. Hình ảnh “một đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” là hậu quả của cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn: đói khát, đau ốm, căn bệnh sốt rét rừng hoành hành làm mái tóc các anh rụng dần đi, làn da xanh xao, vàng vọt. Nhưng cũng có thể hiểu một cách thi vị, tếu táo là mái đầu trọc ấy là do chính các anh tự tạo nên để thuận tiện trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu. Cuộc sống chiến đấu và sinh hoạt thiếu thốn đó đã được nhà thơ Chính Hữu hay Tố Hữu miêu tả một cách chân thực trong vần thơ của mình:

Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.

( Chính Hữu)

Hiện thực trong thơ Quang Dũng còn khắc nghiệt hơn vậy. Nhưng Quang Dũng đã tái hiện hiện thực đó bằng cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng, bằng bút pháp đảo ngữ, phủ định từ “không” đầy dứt khoát cùng những thanh trắc mạnh mẽ, thế bị động đã được đảo lại thành tinh thần chủ động: những người chiến binh không cần tóc, không cần mọc tóc chứ không phải do tóc của họ không mọc được. Không phải một cá nhân mà cả một đoàn quân trọc đầu- một đoàn quân lạ lẫm, ngạo nghễ. Hình ảnh “quân xanh màu lá”- màu của lá rừng, của cành lá ngụy trang và là màu của sự sống, của hi vọng. Kết hợp cùng hình ảnh so sánh, ẩn dụ “dữ oai hùm”, chân dung đoàn binh Tây Tiến hiện lên thật oai phong, lẫm liệt, tràn đầy khí phách tựa như mãnh hổ chốn rừng xanh.

 Người lính Tây Tiến còn hiện lên đầy chân thực qua chân dung tâm hồn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Hình ảnh “mắt trừng” là đôi mắt mở to, tập trung mọi nhãn lực, thể hiện ý chí, khát vọng. Giấc mộng qua biên giới là giấc mộng lập công, giấc mộng về cuộc sống hòa bình, tự do. Giấc mộng ấy đã hòa nhập với tình yêu lứa đôi, với giấc mộng, giấc mơ lãng mạn và đa tình “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Các anh mơ về Hà Nội, nơi quê hương xứ sở, nơi phồn hoa đô hộ, nơi có dáng kiều thơm- những người thiếu nữ Hà thành xinh đẹp, yêu kiều. Những giấc mộng, giấc mơ là giây phút lãng mạn hiếm hoi trong tâm hồn các anh và là động lực tiếp bước chân người lính vượt qua bao khó khăn, gian khổ.

Người lính Tây Tiến còn hào hùng, hiên ngang trong lí tưởng sống cao đẹp. Các anh nguyện ra đi vì tổ quốc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Hình ảnh “những nấm mồ” nằm rải rác nơi biên cương xa xôi là hiện thực khốc liệt của chiến tranh. Quang Dũng không né tránh hiện thực mà dùng cảm hứng lãng mạn nâng đỡ cái bi thương. Với cách sử dụng một loạt từ Hán Việt cổ kính, trang trọng như “biên cương, mồ viễn xứ”, cái bi đã được giảm nhẹ, được mờ đi rất nhiều đặc biệt là qua cách nói đầy khẩu khí “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. “Đời xanh” là đời trẻ, là phần đời đẹp nhất của mỗi con người nhưng họ phải ra đi gửi tuổi xuân tươi đẹp ấy. Hai chữ “chẳng tiếc” là cách thể hiện thái độ lựa chọn dứt khoát: vì tổ quốc mà không ngại hi sinh. Bởi vậy, những khó khăn hay cái chết rình rập từng ngày cũng không làm các anh nản chí. Anh bộ đội cụ Hồ với những phẩm chất cao đẹp mãi là chân dung bi tránh cho tinh thần, cho ý chí quyết chiến, quyết thắng.

Xem thêm:  Soạn văn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài chương trình Ngữ văn 12

Vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến còn được thể hiện ở sự hi sinh bất tử:

 Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Hình ảnh áo bào thay chiếu đã gợi lại một hiên thực đau thương nơi chiến trường miền Tây thuở ấy. Những người lính Tây Tiến sống trong tận cùng đau khổ, thiếu thốn và cũng ra đi trong sự thiếu thốn. Không có áo bào, khi hi sinh, các anh chỉ có manh chiếu đắp thân.Nhưng trong nhiều điều kiện gian khổ hơn thế, đến manh chiếu cũng không có thì chiếc áo lính bạc vì mưa nắng, rách vì bom đạn là những kỉ vật cuối cùng ôm trọn vẹn lấy các anh. Những vần thơ của Quang DŨng làm bạn đọc không khỏi bùi ngùi, xót xa. Nhưng tỏng chính những đau xót ấy, ta thấy được nỗi lòng riêng của nhà thơ. Ông viết “anh về đất” với ý nói giảm, nói tránh cái bi thương. Sự ra đi của các anh thật nhẹ hàng, thanh thản nhưu một cuộc trở về với đất mẹ sau khi hoàn thành nhiêm vụ với quê hương, đất nước. Thể xác, linh hồn các anh mãi trường tồn bất tử cùng non sông, đất nước. Và dòng sông Mã với “ khúc độc hành” là ẩn dụ, là nhân hóa nghệ thuật độc đáo. Dòng sông Mã đã thay lời thiên nhiên, đất nước, thay lời những người thân, đồng chí, đồng đội để cất lên khúc độc hành tiễn các anh về với nơi yên nghỉ vĩnh hằng. Đó là âm vang của lòng tiếc thương, của sự căm thù uất hận, của tinh thần quật khởi. Khúc ca bi tráng đã ắt đi đau thương của hiện thực và ngợi ca sự hi sinh anh hùng của những người chiến binh.

Ngòi bút lãng mạn, tài hoa cùng với hình ảnh thơ độc đáo đã giúp đoạn thơ tái hiện thành công, chân thực bức tượng đài người lính Tây Tiến. Ở họ, bạn đọc nhìn thấy vẻ đẹp của người tráng sĩ  xưa, vừa mang vẻ đẹp hào hùng của anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp. Vẻ đẹp người lính Tây Tiến sống mãi cùng thời gian, hòa trong nhịp dòng non sông, đất nước.

Bức tượng đài người lính Tây Tiến trong bài thơ nói riêng, hình ảnh người lính trong thơ ca kháng chiến nói chung. Tất cả họ đều là những bông hoa ngát hương của một thời, của một dân tộc anh hùng. Anh bộ đội cụ Hồ sẽ mãi bất tử trong không gian, thời gian và theo dấu chân bạn đọc để tìm hiểu về non sông, về dân tộc Việt Nam trong những trang viết đặc sắc.

Đỗ Thị Thu Trang

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment