Home Những bài văn hay lớp 12 [Văn mẫu học sinh] Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

[Văn mẫu học sinh] Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

Dàn ý chi tiết

1.

Hướng dẫn

Mở bài:

Giới thiệu truyện ngắn Vợ nhặt và nhân vật bà cụ Tứ.

2. Thân bài:

Luận điểm 1) Khái quát về tác giả, tác phẩm.

_Tác giả Kim Lân:.

+Là một cây bút truyện ngắn viết về cuộc sống và con người  nông thôn

 + Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng , Con chó xấu xí

_Truyện ngắn Vợ nhặt:

+ một trong số truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được ông viết sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dở dang và sau đó bị thất lạc bản thảo. Đến năm 1954, Kim Lân đã viết lại tác phẩm này dựa vào một phần truyện cũ và được in trong tập “Con chó xấu xí”

+Truyện tố cáo tội ác của kẻ thù xâm lược đồng thời cũng khẳng định niềm khát khao hạnh phúc cùng niềm tin mãnh liệt của nhân dân lao động vào sự sống và tương lai phía trước.

Luận điểm 2) Hình ảnh nhân vật bà cụ Tứ:

a. Lai lịch: người dân ngụ cư nghèo khổ, bất hạnh.

b. Sự xuất hiện: giữa câu chuyện trong sự mong ngóng của anh cu Tràng.

c. Thân phận, cảnh ngộ:

_Đó là một bà lão già nua, ốm yếu.

+dáng đi lọng khọng.

+vừa đi vừa húng hắng ho.

+miệng vừa lẩm nhẩm tính toán gì đó trong miệng.

+đôi mắt lèm nhèm.

_Gia cảnh: nghèo khổ, bất hạnh.

+chồng con chết sớm.

+chỉ còn mẹ góa con côi.

+sống ngụ cư.

+gia tài chỉ có duy nhất một túp lều đứng rúm ró.

_Con trai bà chỉ cưới được vợ trong nghịch cảnh.

d. Vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn:

_Tấm lòng nhân hậu giàu tình yêu thương

+với Tràng: qua suy nghĩ thương cảm cho hoàn cảnh của con.

+với nàng dâu mới: cưu mang, đùm bọc; ánh mắt yêu thương âu yếm; lời nói ân tình.

_Ý thức vun đắp cho cuộc sống, rất mực lạc quan, tin tưởng vào tương lai.

Luận điểm 3) Đánh giá.

3. Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp của nhân vật. Bà cụ Tứ chính là hình ảnh tiêu biểu cho hình ảnh người mẹ Việt Nam yêu thương, hi sinh vì con.

[Văn mẫu học sinh] Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ

Bài văn tham khảo

Có ai đó đã từng nói: “Trên thế giới có nhiều kì quan, nhưng kì quan đẹp nhất là trái tim người mẹ”. Văn học Việt Nam đã bao lần nói về người mẹ với tình yêu thương vô bờ cho con cái. Tình yêu thương của người mẹ có thể rất cụ thể qua những cử chỉ đầy âu yếm nhưng cũng có khi nhẹ nhàng như dòng suối vooxveef trái tim con. Là một người mẹ- người nông dân suốt đời lam lũ, bà cụ Tứ cũng muốn dành trọn vẹn tình yêu thương cho con cái. Hình ảnh bà cụ Tứ trong trang viết Vợ nhặt của Kim Lân đã để lại cho bạn đọc nhiều suy nghĩ.

Xem thêm:  Soạn văn Khái quát văn học Việt Nam từ đầu cách mạng tháng 8 năm 1945 đến hết thế kỉ XX

Nhà văn Kim Lân là cây bút quen thuộc với bạn đọc. Ông là tác giả của những tập truyện như  Nên vợ nên chồng, Con chó xấu xí.. Ông viết có thể không nhiều mỗi trang viết đều là tình yêu nhà văn gửi gắm trọn vẹn đến bạn đọc của mình. Văn chương Kim Lân cũng giống con người cá nhân ông, hồn hậu,khắc khổ nhưng luôn ấm áp yêu thương. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, có lẽ Kim Lân đã dành trọn vẹn tình yêu cho làng quê Việt Nam và được coi là nhà văn của nông thôn Việt Nam.

Truyện ngắn Vợ nhặt là tác phẩm khá đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân. Truyện tuy viết vào năm 1954 nhưng cốt truyện lại là bối cảnh của nạn đói năm 1945 và tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Toàn bộ câu chuyện là bức tranh nạn đói tối tăm, thê thảm nhưng vẫn le lói niềm tin vào hạnh phúc, vào tương lai mà gia đình nhỏ của bà cụ Tứ là một điển hình.

 Xây dựng bà cụ Tứ, phương diện đầu tiên mà nhà văn muốn bạn đọc nhìn thấy là thân phân cùng cảnh ngộ của bà lão. Bà cụ Tứ được nhà văn khắc họa dưới ngòi bút của mình là bà lão già nua, ốm yếu thể hiện rõ nét qua vẻ ngoài. Bà hiện ra với dáng đi lọng khọng, vừa đi vừa húng hắng ho, miệng thì lẩm bẩm tính toán gì đó trong miệng, đôi mắt lèm nhèm..Gia cảnh nghèo khổ, bất hạnh. Chồng con đều mất sớm, chỉ còn mẹ góa con côi nương tựa nhau trong một xóm ngụ cư. Gia tài cả đời của bà chỉ có một túp lều rách rưới đứng rúm ró nơi góc vườn mọc đầy cỏ dại. Nhưng có lẽ nỗi bất hạnh lớn nhất với người mẹ ấy chính là không thể lo nổi vợ cho con dù con đã đến tuổi trưởng thành. Dù trong tình huống truyện, anh cu Tràng- con trai bà cụ Tứ đã có được vợ dễ dàng, nhanh chóng nhưng lại là trong hoàn cảnh trớ trêu, éo le.

Sau một số phận khổ đau, sau vẻ ngoài lam lũ là vẻ đẹp tâm hồn rất đỗi cao quý. Bà là người có tấm lòng nhân hậu, giàu tình yêu thương. Với lòng thương con vô hạn thì ngay sau phút giây bất ngờ khi thấy người phụ nữ xa lạ bà đã chợt hiểu ra mọi sự. Lòng người mẹ ấy ngổn ngang, bề bộn trăm mối: ai oán, xót xa, lo lắng tủi hờn cho số kiếp của con trai: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con lúc người ta ăn nên làm ra còn mình thì..”. Tình thương con như nghẹn đắng trong lòng và tuôn trào thành dòng nước mắt đau xót cho số phận của đứa con khi cái đói, cái chết đang cận kề: “Biết rằng có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói khát này”.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh để làm nổi bật vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ

Nhưng điều đáng quý ở bà cụ Tứ là càng thương con trai mình bao nhiêu thì bà càng thưowng nàng dâu mới bấy nhiêu. Với sự thấu hiểu của moọt người mẹ già từng trải, bà cụ Tứ chắc chắn nhận ra một điều rằng: con trai mình lấy vợ giữa lúc này là một nghịch cảnh. Vì lòng thương con trai và lo lắng cho con, bà cụ Tứ có thể và hoàn toàn có quyền không chấp nhận nàng dâu mới. Nhưng bà cụ Tứ đã đón nhận nàng dâu mới với cả tấm lòng thấu hiểu, cảm thông sâu sắc của những con người cùng cảnh ngộ: “người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình…”. Bà sẵn sàng cưu mang, đùm bọc người phụ nữ ấy trong cơn hoạn nạn, và hơn nữa, bà còn coi chị như là một ân nhân “mà con mình mới có vợ được”. Bởi vậy bà cụ Tứ đã kìm nén và gạt bỏ moị nỗi niềm để chấp thuận cuộc hôn nhân của đôi trẻ với niềm vui chân thành, giản dị: “các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”.

Bà cụ đã dành cho nàng dâu mới- người vợ nhặt rẻ rúng của đứa con trai mình bao tình cảm yêu thương đôn hậu qua ánh nhìn âu yếm, qua cử chỉ ân cần, thân mật, qua lời khuyên bảo chân tình và cả những giọt nước mắt nghẹn ngào của tấm lòng thương xót: “Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”. Chính tấm lòng vị tha, nhân hậu của bà cụ Tứ đã xua đi bao nỗi mặc cảm, tủi hờn, lo âu của nàng dâu mới. Chị đã tự nguyện ở lại gắn bó với gia đình ấy, mang cả tấm lòng của mình để trả nghĩa cho những tấm lòng, trở thành người vợ hiền, nàng dâu thảo.

Sự kiện Tràng đột nhiên có được vợ, bà cụ Tứ bất ngờ có được nàng dâu mới dường như đã làm trỗi dậy và hồi sinh niềm khao khát về một tổ ấm gia đình hạnh phúc và niềm lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống, tương lai trong tâm hồn người mẹ đã gần đất xa trời, bị cuộc sống vắt đi đến kiệt cùng sinh lực. Sự thay đổi rõ rệt của bà cụ Tứ là vào buổi sáng hôm sau, bà đã dậy sớm cùng nàng dâu mới quét dọn, thu vén nhà cửa cho ngăn nắp, sạch sẽ, phong quang. Cái mặt bủng beo, u ám hàng ngày của bà rạng rỡ hẳn lên. Dường như bà đã thắp lên ngọn lửa của sự sống, niềm tin yêu vào cuộc sống trong chính ngôi nhà mà mấy hôm trước đaay còn lạnh lẽo, hoang tàn. Đặc biệt là trong bữa cơn đón nàng dâu mới vô cùng thiếu thốn và thảm hại, nhưng bà cụ Tứ lại vui vẻ vô cùng. Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện và toàn truyện vui vẻ, sung sướng sau này. Điều thật lạ là người mẹ già đã gần đất xa trơi mà lại nói nhiều nhất về tương lai. Ấn tượng nhất là thái độ của bà cụ Tứ khi bưng lên nồi cháo cám- một thứ đồ ăn dường như không phải để cho người, bà cụ tươi cười đon đả múc cháo mời các con cùng với giọng nói đầy vui vẻ, hồ hởi: “Chè đây…Chè khoán đây ngon đáo để cơ”.

Xem thêm:  Trình bày suy nghĩ của anh chị về ý nghĩa của những trải nghiệm trong cuộc sống

Đó có phải niềm vui thực sự trogn lòng bà cụ Tứ? Đành rằng hôm nay bà được đón nàng dâu mới và nhà vẫn còn cháo cám để mà ăn nhưng niềm vui ấy không đủ để cất cánh khi bữa cơm ngày cưới lại phải thêm một nồi cháo cám chát xít và nghẹ bứ trong cổ họng. Phải chăng người mẹ già ấy đã gắng gượn giấu đi nỗi tủi hờn, xót xa, tạo nên một không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ, xua đi hiện thực phũ phàng, để mang đến cho các con niềm vui, niềm tin tưởng hi vọng vào tương lai tươi sáng hơn rồi sẽ đến.

Với ngôn ngữ chọn lọc, giản dị, mang đậm chất khẩu ngữ của người nông dân, những chi tiết miêu tả sinh động, đầy ấn tượng, ngòi bút miêu tả nhân vật tinh tế, chân thực… Nhà văn Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh một người mẹ nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, vị tha, giàu nghị lực sống, giàu niềm tin, lạc quan vào tương lai. Nhân vật bà cụ Tứ đã trở thành một điểm sáng trong bức tranh ảm đạm của xóm ngụ cư trong nạn đói. Qua đó tác giả đã phản ánh số phận con người trong nạn đói 1945 mà quan trọng hơn để thể hiện trọn vẹn tư tưởng nhân đạo của nhà văn. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, dù đứng ngay trên miệng vực của cái chết, người nông dân vẫn vươn lên trên cái chết để vui sống và hi vọng.

Đúng như nhà văn Nguyễn Khải đã viết: “ Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ những gian khổ hy sinh, ở đời không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có đủ sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”. Hình ảnh bà cụ Tứ cùng với gia đình nhỏ đói nghèo đã cho người đọc niềm tin, hi vọng về ranh giới giữa sự sống và cái chết. Người nông dân nghèo khổ nhưng vượt lên trên khổ đau họ vẫn tin vào ngày mai tươi sáng.

Đỗ Thị Thu Trang

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment