Home Những bài văn hay lớp 12 [Văn mẫu học sinh] Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

[Văn mẫu học sinh] Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

Dàn ý chi tiết

1.

Hướng dẫn

Mở bài:

_Giới thiệu vấn đề nghị luận: Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.

2. Thân bài:

Luận điểm 1: Khái quát về tác giả, tác phẩm.

Tác giả Tô Hoài:

_nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại.

_ nhiều tác phẩm thành công về đề tài miền núi.

_ ngòi bút sở trường là miêu tả thiên nhiên phong tục tập quán.

_tác phẩm  nổi bật đó chính là tập truyện Tây Bắc.

Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ:

_tác phẩm ra đời năm 1952, nhân chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng các chiến sĩ nên giải phóng miền núi Tây Bắc.

_ được trích từ tập truyện Tây Bắc, được tặng giải nhất về truyện và kí (năm 1954- 1955).

Luận điểm 2: Hình ảnh nhân vật Mị:

_Mị trước khi làm con dâu nhà thống lí Pá Tra

+ cô gái xinh đẹp

+ có tài thổi sáo

+yêu đời, yêu tự do

+là người con hiếu thảo hết mực

_Khi trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí

+ đau đớn về thể xác: làm việc quần quật như một thứ công cụ lao động, bị đánh đập.

     + đau đớn về tinh thần: sống trong căn buồng tối, không phân biệt ngày đêm.

_ Đêm tình mùa xuân với sức sống tiềm tàng

+ nguyên nhân: khung cảnh ngày xuân, men rượu, âm thanh tiếng sáo

+nhận thức và hành động: lấy miếng mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng, tự làm đẹp để đến đêm tình mùa xuân.

+ kết quả: bị A Sử bắt gặp và trói đứng

_Đêm đông cởi dây trói cứu A phủ với sức mạnh vùng lên giải phóng.

+ ban đầu: thản nhiên ngồi thổi lửa hơ tay.

+nguyên nhân: nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ.

+hành động: cắt dây trói cứu A Phủ.

+kết quả: chạy theo A Phủ.

Luận điểm 3: Hình ảnh nhân vật A Phủ.

_Lai lịch:

+ chàng trai H’mông nghèo khổ, bất hạnh, mồ côi.

+ bị người làng đem bán, đi ở nhà này đến nhà khác.

+ nghèo nên không lấy nổi vợ.

_Vẻ đẹp

+ chàng trai khỏe mạnh, cần cù, dũng cảm, tài ba.

+ luôn khao khát cuộc sống tự do, phóng khoáng.

_Cuộc đời nô lệ:

+ cảnh xử kiện phạt vạ: nguyên nhân do đánh A Sử- con trai Thống lí.

Diễn biến: A Phủ không được trình bày, không được nghe luận tội, quỳ để bị đá.

Kết thúc: A Phủ phải chịu số tiền phạt vạ khổng lồ và phi lí, trở thành nô lệ cho nhà Thống lí.

+ cảnh A Phủ bị trói đứng vì làm mất bò: Tự tay chôn cột, lấy dây mây để người khác trói mình. Dùng tính mạng để đền mạng cho con bò bị hổ ăn thịt.

_Tinh thần phản kháng mạnh mẽ:

+ khi còn nhỏ.

+ chứng kiến A Sử quấy rối phá đám cuộc chơi đã đánh trả.

+ trong cảnh xử kiện: không khóc, không kêu rên, quỳ im như tượng để chịu đòn.

+ bị trói: nhay đứt mấy vòng dây mây; chỉ bất lực, buông xuôi khi bị Thống lí quàng thêm hai thòng lọng.

+ khi được Mị cắt dây trói: ngã khuỵu xuống vì kiệt sức; quật sức vùng lên chạy bất chấp đau đớn.

Luận điểm 4: Giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực của tác phẩm.

_giá trị nhân đạo:

+ phản ánh số phận khổ đau của con người.

+bày tỏ sự cảm thông cho số phận nhân vật như Mị và A Phủ…

+trân trọng, ngợi ca đức tính tốt đẹp của Mị và A Phủ.

_giá trị hiện thực:

+ tố cáo tội ác của giai cấp thống trị.

+ khắc họa chân thực cuộc sống khổ cực của người nông dân  qua Mị và A Phủ.

Luận điểm 5: Đánh giá về nghệ thuật và nội dung.

3. Kết bài:

_khẳng định giá trị và ý nghĩa của truyện ngắn.

[Văn mẫu học sinh] Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ

Bài văn tham khảo

Một tác phẩm văn học chứng minh giá trị của mình trước lớp bụi thời gian không chỉ qua những giải thưởng. Hơn cả những giải thưởng đó là ghi nhận, đón đọc của độc giả. Song không phải cây bút nào cũng đủ tài hoa để chắp cánh cho câu chữ của mình sáng mãi. Vậy nhưng có một tác phẩm cứ mãi vang cao âm điệu của mình trước dòng chảy thời gian. Đó chính là Tô Hoài cùng truyện ngắn Vợ chồng A Phủ.

Tô Hoài là một nhà văn lớn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam với số lượng tác phẩm đạt đến kỷ lục. Hầu hết sáng tác của Tô Hoài thiên về diễn tả sự thật của đời thường với trần thuật hóm hỉnh, sinh động hấp dẫn. Sáng tác của ông thể hiện sự am hiểu sâu sắc về cuộc sống con người phong tục cũng như sinh hoạt của người dân Tây Bắc.

Vợ chồng A Phủ được trích từ tập truyện Tây Bắc sau chuyến đi thực tế của Tô Hoài năm 1952 trong một lần lên Tây Bắc. Truyện hướng tới phản ánh số phận của những người lao động miền núi Tây Bắc, đi từ số phận khổ đau đến cuộc đời mới tự do.

 Hình ảnh nhân vật Mị trong truyện ngắn được khắc họa chủ yếu dựa trên cuộc đời nhân vật trước khi làm con dâu nhà thống lí cho đến khi trở thành con dâu nhà thống lí. Sự biến chuyển phần nhiều trong tâm lí nhân vật đã tạo nên chân dung tinh thần giúp người đọc dễ hình dung.

Xem thêm:  Trình bày suy nghĩ về ý kiến: Bản lĩnh tốt vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung quanh

 Trước khi trở thành con dâu nhà thống lí Pá tra, Mị là cô gái với nhiều phẩm chất tốt đẹp. Mị là người lao động cần mẫn, chăm chỉ, yêu đời, khao khát tự do hạnh phúc và hết mực hiếu thảo với cha. Khi biết được việc mình phải lấy con trai thống lí để trừ đi món nợ cũ của cha mẹ Mị đã đấu tranh và hết mực khuyên cha: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Mị chấp nhận cuộc sống lao động vất vả chứ không chọn trở thành con dâu của gia đình giàu có vì cô hiểu được đó là nơi không có tự do. Tài năng, vẻ đẹp của Mị tuy chỉ được Tô Hoài nói đến trong vài câu văn nhưng lại hoàn toàn minh chứng được phẩm giá của cô. Vẻ đẹp của người con gái khiến bao chàng trai mê, đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị rồi ngày ngày thổi sáo đi theo Mị từ dãy núi này sang dãy núi khác. Mị lại còn có tài thổi sáo: “thổi lá hay như thổi sáo”. Mị chính là bông hoa ngát hương của núi rừng Tây Bắc từ nhan sắc đến tài năng, tính cách.

Song ở Mị ta đã thấy những chuyển biến rất rõ nét khi cô trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí. Chính hành động cướp vợ của A Sử – con trai thống lí cùng sức mạnh đàn áp của cường quyền, thần quyền đã mở ra trang mới trong cuộc đời Mị nhưng đầy tăm tối và khổ đau. Nó đã giết đi con người của tự do và biến Mị trở nên lầm lũi vô cảm trước cuộc đời.

 Hình ảnh Mị được nhà văn tái hiện ngay trong những câu văn đầu tiên đang trong công việc lao động: “ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa” và “cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Mị mang danh là con dâu nhà thống lí nhưng thực chất là công cụ lao động làm giàu. Ngày nào Mị cũng quần quật với đủ công việc: quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi, cõng nước…Ngay cả khi đang làm một công việc là bung ngô thì Mị cũng gài sẵn một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Một loạt hình ảnh liệt kê cho thấy những vất vả của Mị. Thân phận cô còn chẳng sánh bằng con trâu, con ngựa vì con vật còn có lúc nghỉ ngơi. Thậm chí cô còn phải chịu những đòn roi vô lí từ chồng của mình trong đêm tình mùa xuân hay đêm đông ngồi thổi lửa hơ tay.Nhưng đau khổ về thể chất cũng không sánh nổi nỗi đau tinh thần. Nỗi đau ấy bị gieo rắc bởi hủ tục trình ma, con ma vô hình đã ép buộc Mị sống trong cam chịu. Mị không dám chết vì có chết vẫn là ma nhà thống lí. Mị vô cảm trong cả nhận thức và hành động, cam chịu là con rùa lầm lũi nuôi trong xó cửa. Căn buồng Mị sống nhỏ hẹp, kín mít chỉ có duy nhất một lỗ vuông bằng lòng bàn tay và lúc nào trông ra cũng chỉ thấy một màu trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Đến không gian, thời gian Mị cũng không tự ý thức được mà cô chỉ mòn mỏi đợi “đến bao giờ chết thì thôi”. Quá trình biến đổi của Mị gắn với sự đàn áp của cường quyền, thần quyền. Và liệu Mị có mãi cam chịu cúi đầu chấp nhận quãng đời nô lệ?.

Đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài năm đó là điều kiện để Mị thức tỉnh. Dưới tác động của khung cảnh ngày xuân: cỏ gianh vàng ửng đỏ, gió và rét rất dữ dội, âm thanh rạo rực của tiếng trẻ con chơi đùa, tiếng chiêng đánh ầm ĩ ít nhiều tác động đến Mị. Thêm vào đó là men rượu ngày Tết và tiếng sáo đêm tình mùa xuân. Tất cả đã tạo nên chuyển biến rõ nét nhất trong Mị trong cả nhận thức và hành động. Tiếng sáo đêm tình mùa xuân trở đi trở lại nhiều lần như một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trực tiếp làm sống dậy một cô Mị lầm lũi, cam chịu đến thế. Lần đầu tiên sau bao năm sống thầm lặng lầm lũi như một cái bóng cô nhớ về quá khứ tươi đẹp và ước “nếu có nắm lá ngón trong tay, Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ chẳng buồn nhớ lại”. Dám chết cũng có nghĩa là Mị đã nhận ra được tình cảnh của bản thân. Rồi việc cô ý thức được về không gian, thời gian qua hành động: “lấy thêm một miếng mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng” bất ngờ nhưng hợp lí. Mị thắp lên ánh sáng đĩa đèn hay chính là ánh sáng của cuộc đời mình. Khao khát được hạnh phúc, được sông là người thôi thúc Mị lấy cái váy hoa, gài lại mái tóc để tự làm đẹp cho mình đến với đêm tình mùa xuân. Song mong muốn của Mị chưa trở thành hiện thực thì đã bị A Sử bắt gặp. Mị bị đối xử tàn tệ bằng việc trói đứng, làm cô không ngẩng, không cúi được. Mị thậm chí vẫn đắm chìm trong hơi men, trong âm thanh rạo rực của tiếng sáo đêm tình và không ý thức được mình bị trói cho đến khi sợi dây đay xiết vào chân đau đớn cô mới tự ý thức được thân phận mình không bằng con ngựa.

Xem thêm:  Em hãy bình luận về vẻ đẹp của khổ thơ cuối trong bài Đò Lèn

Sau đêm tình mùa xuân Mị càng trở nên lầm lũi hơn trước. Và khi ngày đông đến Mị duy trì thói quen thổi lửa hơ tay. Hành động của Mị vừa để sưởi ấm vừa để nuôi dưỡng ngọn lửa sự sống trong tâm hồn. Và dù bị A Sử đạp vào mặt khi đang ngồi thổi lửa hơ tay thì Mị vẫn tiếp tục duy trì thói quen đó. Và chính trong những đêm ngồi thổi lửa hơ tay Mị đã bắt gặp hình ảnh A Sử bị trói đứng. Lúc đầu Mị thản nhiên, vô cảm trước tình cảnh đáng thương của A Phủ. Chỉ khi nhìn thấy giọt nước mắt chảy xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ mị mới nhận thức được họ đều là những người cùng cảnh ngộ. Cô nhớ về đêm mùa xuân năm trước bị A Sử trói đứng, nước mắt chảy xuống mà không thể lau đi được và nhận ra tội ác của cha con thống lí. Tất cả dẫn đến hành động hết sức liều lĩnh của Mị là cắt dây trói cứu A Phủ. Cô sẵn sàng chết thay A Phủ dù sợ hãi. Nhưng khi chứng kiến sức mạnh quật cường của A Phủ, Mị đã “đứng lặng trong bóng tối”. Chỉ bằng một hình ảnh “đứng lặng”, Tô Hoài đã cho thấy những trăn trở và giằng xé trong Mị lúc này. Nhà văn không thể để cuộc đời Mị mãi tăm tối như vậy. Mị đã vùng lên bằng hành động chạy trốn theo A Phủ: “A Phủ cho tôi theo với”. Một hành động đầy bất ngờ nhưng vô cùng hợp lí. Tô Hoài đã khẳng định sức mạnh quật cường của con người vượt lên trên cả đau đớn và hoàn cảnh khắc nghiệt.

A Phủ là chàng trai người H’mông nghèo khổ bất hạnh. Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ, bị người làng đem bắt bán cho người Thái ở dưới thấp, sau đó A Phủ trốn ngược về vùng cao và sống lưu lạc khắp vùng Hồng Ngài, đi ở cho hết nhà này đến nhà kia. Đến tuổi trưởng thành, A Phủ vẫn nghèo, chỉ có hai bàn tay trắng nên không lấy nổi vợ. Nhưng A Phủ là một chàng trai khỏe mạnh, cường tráng, cần cù, dũng cảm và tài ba: đốt rừng, làm lương, cuốc lương, chăn bò, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình tăng và biết đục cuốc. Đặc biệt, A Phủ luôn khao khát cuộc sống tự do phóng khoáng. Ngay từ khi mới lên mười, cậu bé A Phủ đã không chịu sống cùng người Thái dưới chân núi mà muốn trở lại vùng cao, chấp nhận cuộc sống nơi nay đây mai đó nhưng được là con chim của núi rừng tự do.

Từ một chàng trai tràn đầy sinh lực, bản tính mạnh mẽ, kiên cường luôn khao khát cuộc sống tự do, phóng khoáng. A Phủ bị giai cấp thống trị tàn bạo cột chặt vào kiếp đời nô lệ đau đớn tủi nhục. Nhưng nếu như nỗi khổ của Mị triền miên, dai dẳng, thầm lặng thì nỗi khổ của A Phủ được miêu tả tập trung qua hai cảnh đó là cảnh sự kiện phạt và và cảnh A Phủ bị trói đứng vì làm mất bò.

 Cảnh sự kiện phạt vạ diễn ra chỉ vì A Phủ đã dám đánh lại con quan chính là A Sử rồi khiến cho A Phủ bị bắt về nhà thống lý chịu kiện. Một phiên tòa đặc biệt lạ lùng và tàn bạo đến mức chưa từng có. Công đường là nhà thống lí, quan tòa lại chính là thống lí Pá Tra.  Thành phần tham gia xét xử đông đảo với đầy đủ chức sắc trong vùng, trịnh trọng trang nghiêm, chỉ có nằm hút thuốc phiện và ăn cỗ. Nhân trứng lại là đám trai làng- những công cụ của thống lý. Còn  bị cáo A Phủ thì không được trình bày, không được nghe luận tội mà chỉ luôn quỳ im mà chịu đòn. không khí phiên tòa diễn ra đầy nhốn nháo, náo loạn của tiếng kể, chửi bới, đấm đá và tiếng rít thuốc phiện, khói thuốc phiện ngào ngạt tuồn qua các ô cửa. Kết thúc xử kiện, A Phủ phải chịu một số tiền phạt và khổng lồ và phi lý. Ngoài tiền cho người bị đánh, cũng phải trả toàn bộ tiền cho các quan, cho người đi gọi các quan về, toàn bộ số tiền hút thuốc phiện từ hôm qua đến hôm sau và cả một con lợn cho làng ăn cỗ. Tất cả lên tới một trăm đồng bạc trắng  và Pá Tra  thừa biết A Phủ không thể nào có tiền trả cho nên hắn đã cho A Phủ vay nợ, suốt đời làm trâu làm ngựa trả nợ cho hắn: đời mày, đời con, đời cháu mày bao giờ hết nợ tao mới thôi”. Để sợi dây trói buộc thêm chắc chắn khi thì Pá Tra  gọi con ma về nhận mặt người vay nợ rồi toàn bộ số bạc cho A Phủ vay lại hoàn nguyên vào túi của thống lý.

Cuộc sống nô lệ tủi nhục của A Phủ bắt đầu từ giây phút ấy. Đau đớn, chân bước đi tập tễnh, A Phủ phải cầm dao đi giết lợn làm cỗ cho những kẻ vừa đánh đập chửi bới phạt vạ mình. Và từ một chàng trai khỏe mạnh, dũng cảm, khao khát cuộc sống tự do, A Phủ đã phải sống một kiếp đời như trâu ngựa cùng với đàn trâu đàn ngựa nhà thống lý. Qua cách sự kiện phạt vạ, nhà văn Tô Hoài đã tố cáo bản chất tham lam, độc ác của giai cấp thống trị miền núi. Chúng đã dùng mọi thủ đoạn thâm độc để áp mức cột chặt những con người lao động tự do vào kiếp đời nô lệ để bóc lột họ đến kiệt cùng.

Xem thêm:  [Văn mẫu học sinh] Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Chỉ vì sơ ý làm mất một con bò nhà thống lý mà A Phủ phải chịu một hình phạt thật thảm khốc. Nỗi khổ nhục của A Phủ trước hết là tự tay đào lỗ chôn cột, lấy dây mây để cho người khác trói mình. A Sử đã trói A Phủ  một cách tàn nhẫn: trói đứng A Phủ bằng một cuộn dây mây đến khi thống lý vào lại thòng thêm hai thằng lòng vào cổ làm cho A Phủ không cựa quậy được rồi bỏ mặc A Phủ trong đau đớn, đói rét cho tới chết để đền mạng cho con bò của gia đình thống lý. Qua đó, ta thêm hiểu về tội ác dã man tàn bạo của giai cấp thống trị miền núi Chúng coi sinh mạng của con người không bằng con vật và càng hiểu thêm nỗi thống khổ con người lao động khi bị đẩy vào kiếp đời nô lệ. Họ đã bị tước đoạt hoàn toàn quyền sống, quyền làm người.

 Khi còn là một cậu bé lên mười, A Phủ chấp nhận sống nghèo khổ đi ở cho hết nhà này đến nhà khác để sống tự do và khi chứng kiến A Sử quấy rối phá đám cuộc chơi, A Phủ đã đánh hắn dù biết rằng đó là con quan. Trong cảnh xử kiện tàn bạo của thống lí Pá Tra, A Phủ không khóc, không kêu rên mà chỉ quỳ yên như cái tượng đá để chịu đòn. Trước thế lực cường quyền ghê gớm, A Phủ đã bất lực phải chịu đựng nhưng ẩn trong thái độ đó là sự thách thức sự phản kháng ngầm. Trong đêm A Phủ bị trói đứng,chàng trai ấy đã nhay đứt mấy vòng dây mây để tự giải thoát cho mình. Chỉ khi bị cho thêm hai thòng lọng vào cổ, A Phủ mới bất lực.

Sức mạnh của tinh thần phản kháng và lòng khao khát rõ nhất khi A Phủ được Mị cởi trói. A Phủ đã ngã quỵ xuống vì kiệt sức nhưng sau đó A Phủ đã quật tức vùng lên chạy khỏi nhà thống lí. Có lẽ lòng khao khát được sống, được tự do và tinh thần phản kháng ở chàng trai nô lệ ấy đã tạo nên nguồn sức mạnh vô biên khiến cho A Phủ không chỉ được cứu mình mà còn cứu được Mị chạy trốn khỏi nhà thống lí Pá Tra, để được sống tự do chấm dứt kiếp đời nô lệ.

Truyện ngắn cũng rất thành công với hai giá trị nhân đạo và hiện thực. Ngòi bút nhân đạo của nhà văn thể hiện trong việc tái hiện cuộc sống khốn cùng của Mị, của A Phủ, cha mẹ Mị, người chị dâu của Mị. Tất cả họ đều đáng thương. Nhưng tác giả không chỉ thương cho những số phận đen tối ấy mà còn phát hiện, ngợi ca những đức tính tốt đẹp của họ. Đó là những người nông dân khốn cùng những vẫn tươi trẻ, yêu đời, yêu lao động và trong họ la một sức sống tiềm tàng, một sức mạnh phản kháng mãnh liệt. Chính bởi tình thương lớn lao dành cho nhân vật mà Tô Hoài đã để nhân vật được giải thoát. Cuộc đời tươi sáng của Mị và A Phủ ở Phiềng Xa sau này chính là lời khẳng định vững chắc cho tình yêu và niềm tìn của nhà văn. Dẫu cho hiện thực trong truyện vẫn khắc nghiệt thì Tô Hoài cũng không ngại ngần trong cách viết. Ông lên án xã hội ấy bất công với những kẻ độc ác như cha con Pá tra. Xã hội phong kiến thực dân chà đạp lên quyền sống và quyền hạnh phúc của con người. Vợ chồng A Phủ rất thành công trong việc  truyền tải tư tưởng nhân đạo, hiện thực mà Tô Hoài ấp ủ.

Vợ chồng A Phủ đánh dấu chặng đường văn học của ngòi bút Tô Hoài. Tác phẩm mang nhiều ý nghĩa lớn lao và là kết tinh, biểu tượng cho thành công nghệ thuật của nhà văn. Ngôn ngữ được sử dụng trong truyện rất bình dị, đời thường nên càng giúp câu chuyện thêm dễ hiểu với bạn đọc. Nhà văn cũng minh chứng được tài năng của bản thân trong việc miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật từ Mị đến A Phủ. Nhà văn cũng đi sâu tìm hiểu về phong tục, tập quán vùng miền Tây Bắc để xây dựng không gian nghệ thuật hợp lí làm bối cảnh để câu chuyện diễn ra. Phải là ngòi bút có sự am hiểu, ham khám phá mới có thể hiểu, có thể đặt mình vào hoàn cảnh trớ chêu của nhân vật để giúp họ nhìn thấy ánh sáng nơi cuối con đường.

Có rất nhiều câu chuyện viết về người nông dân, có rất nhiều truyện ngắn được sáng tạo mỗi ngày nhưng bạn đọc vẫn mãi nhìn thấy cô Mị nghèo khổ, chàng trai A Phủ bất hạnh trong Vợ chồng A Phủ. Họ sáng mãi trong những trang viết với tất cả niềm tự hào của tác giả cùng niềm yêu của độc giả qua bao năm tháng.

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment