Home Những bài văn hay lớp 12 [Văn mẫu học sinh] Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

[Văn mẫu học sinh] Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

by Huyền Trang

[Văn mẫu học sinh] Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

Giới thiệu vấn đề nghị luận

Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.

2. Thân bài:

Luận điểm 1: Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

+Là một cây bút truyện ngắn viết về cuộc sống và con người  nông thôn

 + Những tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng , Con chó xấu xí

_Truyện ngắn Vợ nhặt:

+ một trong số truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được ông viết sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dở dang và sau đó bị thất lạc bản thảo. Đến năm 1954, Kim Lân đã viết lại tác phẩm này dựa vào một phần truyện cũ và được in trong tập “Con chó xấu xí”

+Truyện tố cáo tội ác của kẻ thù xâm lược đồng thời cũng khẳng định niềm khát khao hạnh phúc cùng niềm tin mãnh liệt của nhân dân lao động vào sự sống và tương lai phía trước.

Luận điểm 2: Hình ảnh nhân vật bà cụ Tứ:

Lai lịch: người dân ngụ cư nghèo khổ, bất hạnh.

Sự xuất hiện: giữa câu chuyện trong sự mong ngóng của anh cu Tràng.

Thân phận, cảnh ngộ:

_Đó là một bà lão già nua, ốm yếu.

+dáng đi lọng khọng.

+vừa đi vừa húng hắng ho.

+miệng vừa lẩm nhẩm tính toán gì đó trong miệng.

+đôi mắt lèm nhèm.

_Gia cảnh: nghèo khổ, bất hạnh.

+chồng con chết sớm.

+chỉ còn mẹ góa con côi.

+sống ngụ cư.

+gia tài chỉ có duy nhất một túp lều đứng rúm ró.

_Con trai bà chỉ cưới được vợ trong nghịch cảnh.

Vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn:

_Tấm lòng nhân hậu giàu tình yêu thương

+với Tràng: qua suy nghĩ thương cảm cho hoàn cảnh của con.

+với nàng dâu mới: cưu mang, đùm bọc; ánh mắt yêu thương âu yếm; lời nói ân tình.

_Ý thức vun đắp cho cuộc sống, rất mực lạc quan, tin tưởng vào tương lai.

Luận điểm 3: Phân tích nhân vật Tràng.

Thân phận , cảnh ngộ:

_ người dân ngụ cư.

_ nghèo khổ, bất hạnh.

_nghề nghiệp: làm thuê, làm mướn.

_ ngoại hình xấu xí, thô kệch.

 anh cu Tràng không lấy nổi vợ. Tuy sau đó lấy được vợ nhanh chóng, dễ dàng nhưng phải đánh liều với cái đói, cái chết.

Sự xuất hiện:

_ngay đầu câu chuyên với dáng vẻ, điệu bộ thô kệch, vừa đi vừa lẩm nhẩm.

Vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn:

_Tấm lòng hào hiệp, thương người.

+ sẵn sàng mời người phụ nữ xa lạ ăn bữa bánh đúc.

+cưu mang người phụ nữ nghèo khổ như thị.

_Khao khát mãnh liệt hạnh phúc lứa đôi.

+luôn âm thầm trong Tràng.

+lấy vợ nhặt- đèo bòng trong cảnh đói bất chấp nỗi sợ.

+ trên đường về nhà: sống trong tâm trạng vui sướng đến tột đỉnh.

+trân trọng hạnh phúc: mong muốn được mẹ thừa nhận hôn nhân của hai người.

_Ý thức vun đắp hạnh phúc gia đình, cuộc sống và tin vào cuộc đời.

+buổi sáng hôm sau khi lấy vợ.

+kết thúc truyện với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hiên ra trong óc Tràng.

Luận điểm 4: Phân tích hình ảnh người vợ nhặt.

_Thân phận, cảnh ngộ:

+ lai lịch: không rõ ràng, chung chung, mơ hồ, không tên tuổi, quê quán, gia đình.

_Sự thay đổi về ngoại hình qua hai lần gặp gỡ Tràng:

+Lần 1: Tràng gặp thị ở đầu dốc, thị là một cô gái trẻ trung, vui tươi, vô tư, tinh nghịch và giúp Tràng đẩy xe bò lên dốc.

+Lần 2: Tràng gặp thị ở cổng chợ (Ít ngày sau), thị đã thay đổi rõ rệt khiến Tràng không thể nhận ra.

_Sự biến đổi trong tính cách của Thị:

+Từ một cô gái có vẻ duyên dáng, tình tứ trở thành người đàn bà chao chát, chỏng lỏn.

Thị tiêu biểu, điển hình cho số phận thê thảm, cảnh ngộ rẻ rúng, bèo bọt của người dân trong nạn đói 1945.

_Vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn:

+lòng khao khát được sống, ý thức bám lấy sự sống.

+Vẻ đẹp tình người ấm áp: đứng trước ra cảnh nghèo khó của gia đình Tràng, thị vẫn chọn lựa gắn bó. Trở thành nàng dâu thực thụ của gia đình nghèo đó.

Luận điểm 5: Đánh giá về nghệ thuật và nội dung

_nghệ thuật: tình huống truyện, ngôn ngữ kể..

_nội dung: thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc về tình thương giữa người với người.

3. Kết bài:

Khẳng định giá trị của truyện ngắn Vợ nhặt với văn học cách mạng nói riêng, văn học Việt Nam nói chung.

[Văn mẫu học sinh] Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân

Phân tích tác phẩm Vợ nhặt

Bài làm tham khảo

Xuôi theo dòng chảy của văn học Việt Nam, chúng ta được biết đến rất nhiều cây bút đặc sắc. Và mỗi cây bút đều tìm được lối đi riêng của mình và vun xới thành công trên con đường mình chọn. Nếu từng đau đớn cho những đau đớn, những bất hạnh của kiếp người khổ nạn như lão Hạc, Chí Phèo, chị Dậu.. thì không thể không xúc động trước tình cảnh thảm khốc của những người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945. Nạn đói thê thảm ấy được ngòi bút của nhà văn Kim Lân khắc họa qua truyện ngắn Vợ nhặt.

Nhà văn Kim Lân là cây bút quen thuộc với bạn đọc. Ông là tác giả của những tập truyện như  Nên vợ nên chồng, Con chó xấu xí.. Ông viết có thể không nhiều mỗi trang viết đều là tình yêu nhà văn gửi gắm trọn vẹn đến bạn đọc của mình. Văn chương Kim Lân cũng giống con người cá nhân ông, hồn hậu ,khắc khổ nhưng luôn ấm áp yêu thương. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, có lẽ Kim Lân đã dành trọn vẹn tình yêu cho làng quê Việt Nam và được coi là nhà văn của nông thôn Việt Nam.

Truyện ngắn Vợ nhặt là tác phẩm khá đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân. Truyện tuy viết vào năm 1954 nhưng cốt truyện lại là bối cảnh của nạn đói năm 1945 và tiền thân là tiểu thuyết Xóm ngụ cư. Toàn bộ câu chuyện là bức tranh nạn đói tối tăm, thê thảm nhưng vẫn le lói niềm tin vào hạnh phúc, vào tương lai mà gia đình nhỏ của bà cụ Tứ là một điển hình.

Nhân vật đầu tiên trong truyện để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc chính là hình ảnh người mẹ Việt Nam: bà cụ Tứ. Xây dựng bà cụ Tứ, phương diện đầu tiên mà nhà văn muốn bạn đọc nhìn thấy là thân phân cùng cảnh ngộ của bà lão. Bà cụ Tứ được nhà văn khắc họa dưới ngòi bút của mình là bà lão già nua, ốm yếu thể hiện rõ nét qua vẻ ngoài. Bà hiện ra với dáng đi lọng khọng, vừa đi vừa húng hắng ho, miệng thì lẩm bẩm tính toán gì đó trong miệng, đôi mắt lèm nhèm..Gia cảnh nghèo khổ, bất hạnh. Chồng con đều mất sớm, chỉ còn mẹ góa con côi nương tựa nhau trong một xóm ngụ cư. Gia tài cả đời của bà chỉ có một túp lều rách rưới đứng rúm ró nơi góc vườn mọc đầy cỏ dại. Nhưng có lẽ nỗi bất hạnh lớn nhất với người mẹ ấy chính là không thể lo nổi vợ cho con dù con đã đến tuổi trưởng thành. Dù trong tình huống truyện, anh cu Tràng- con trai bà cụ Tứ đã có được vợ dễ dàng, nhanh chóng nhưng lại là trong hoàn cảnh trớ trêu, éo le.

Xem thêm:  Màu sắc Nam bộ trong truyện “Những đứa con trong gia đình”

Sau một số phận khổ đau, sau vẻ ngoài lam lũ là vẻ đẹp tâm hồn rất đỗi cao quý. Bà là người có tấm lòng nhân hậu, giàu tình yêu thương. Với lòng thương con vô hạn thì ngay sau phút giây bất ngờ khi thấy người phụ nữ xa lạ bà đã chợt hiểu ra mọi sự. Lòng người mẹ ấy ngổn ngang, bề bộn trăm mối: ai oán, xót xa, lo lắng tủi hờn cho số kiếp của con trai: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con lúc người ta ăn nên làm ra còn mình thì..”. Tình thương con như nghẹn đắng trong lòng và tuôn trào thành dòng nước mắt đau xót cho số phận của đứa con khi cái đói, cái chết đang cận kề: “Biết rằng có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói khát này”.

Nhưng điều đáng quý ở bà cụ Tứ là càng thương con trai mình bao nhiêu thì bà càng thưowng nàng dâu mới bấy nhiêu. Với sự thấu hiểu của moọt người mẹ già từng trải, bà cụ Tứ chắc chắn nhận ra một điều rằng: con trai mình lấy vợ giữa lúc này là một nghịch cảnh. Vì lòng thương con trai và lo lắng cho con, bà cụ Tứ có thể và hoàn toàn có quyền không chấp nhận nàng dâu mới. Nhưng bà cụ Tứ đã đón nhận nàng dâu mới với cả tấm lòng thấu hiểu, cảm thông sâu sắc của những con người cùng cảnh ngộ: “người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình…”. Bà sẵn sàng cưu mang, đùm bọc người phụ nữ ấy trong cơn hoạn nạn, và hơn nữa, bà còn coi chị như là một ân nhân “mà con mình mới có vợ được”. Bởi vậy bà cụ Tứ đã kìm nén và gạt bỏ moị nỗi niềm để chấp thuận cuộc hôn nhân của đôi trẻ với niềm vui chân thành, giản dị: “các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”.

Bà cụ đã dành cho nàng dâu mới- người vợ nhặt rẻ rúng của đứa con trai mình bao tình cảm yêu thương đôn hậu qua ánh nhìn âu yếm, qua cử chỉ ân cần, thân mật, qua lời khuyên bảo chân tình và cả những giọt nước mắt nghẹn ngào của tấm lòng thương xót: “Chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”. Chính tấm lòng vị tha, nhân hậu của bà cụ Tứ đã xua đi bao nỗi mặc cảm, tủi hờn, lo âu của nàng dâu mới. Chị đã tự nguyện ở lại gắn bó với gia đình ấy, mang cả tấm lòng của mình để trả nghĩa cho những tấm lòng, trở thành người vợ hiền, nàng dâu thảo.

Sự kiện Tràng đột nhiên có được vợ, bà cụ Tứ bất ngờ có được nàng dâu mới dường như đã làm trỗi dậy và hồi sinh niềm khao khát về một tổ ấm gia đình hạnh phúc và niềm lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống, tương lai trong tâm hồn người mẹ đã gần đất xa trời, bị cuộc sống vắt đi đến kiệt cùng sinh lực. Sự thay đổi rõ rệt của bà cụ Tứ là vào buổi sáng hôm sau, bà đã dậy sớm cùng nàng dâu mới quét dọn, thu vén nhà cửa cho ngăn nắp, sạch sẽ, phong quang. Cái mặt bủng beo, u ám hàng ngày của bà rạng rỡ hẳn lên. Dường như bà đã thắp lên ngọn lửa của sự sống, niềm tin yêu vào cuộc sống trong chính ngôi nhà mà mấy hôm trước đaay còn lạnh lẽo, hoang tàn. Đặc biệt là trong bữa cơn đón nàng dâu mới vô cùng thiếu thốn và thảm hại, nhưng bà cụ Tứ lại vui vẻ vô cùng. Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện và toàn truyện vui vẻ, sung sướng sau này. Điều thật lạ là người mẹ già đã gần đất xa trơi mà lại nói nhiều nhất về tương lai. Ấn tượng nhất là thái độ của bà cụ Tứ khi bưng lên nồi cháo cám- một thứ đồ ăn dường như không phải để cho người, bà cụ tươi cười đon đả múc cháo mời các con cùng với giọng nói đầy vui vẻ, hồ hởi: “Chè đây…Chè khoán đây ngon đáo để cơ”.

Đó có phải niềm vui thực sự trong lòng bà cụ Tứ? Đành rằng hôm nay bà được đón nàng dâu mới và nhà vẫn còn cháo cám để mà ăn nhưng niềm vui ấy không đủ để cất cánh khi bữa cơm ngày cưới lại phải thêm một nồi cháo cám chát xít và nghẹ bứ trong cổ họng. Phải chăng người mẹ già ấy đã gắng gượn giấu đi nỗi tủi hờn, xót xa, tạo nên một không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ, xua đi hiện thực phũ phàng, để mang đến cho các con niềm vui, niềm tin tưởng hi vọng vào tương lai tươi sáng hơn rồi sẽ đến.

Nhân vật Tràng là nhân vật trung tâm của truyện ngắn Vợ nhặt. Tràng được Kim Lân khắc họa một cách toàn diện từ thân phận, cảnh ngộ đến số phận, phẩm chất.

Tràng là chàng trai nghèo khổ với hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh sống éo le. Bố và em đều mất, chỉ còn một người thân duy nhất là người mẹ nay đã già yếu, bệnh tật. Công việc cuả Tràng là việc làm thuê, làm mướn. Thêm vào đó ngoại hình của nhân vật thuộc diện xấu xí, thô kệch, đầu óc ngờ nghệch. Việc chỉ là một dân ngụ cư với cuộc sống phiêu bạt càng làm tình cảnh của Tràng thêm đáng thương. Và tất yếu dẫn đến hệ quả là anh không thể lấy nổi vợ. Trong tình huống truyện, tuy Tràng lấy được vợ nhanh chóng nhưng điều đó chưa hẳn là may mắn với Tràng. Để lấy người vợ ấy, anh phải đánh liều với cái đói, cái chết: “Chậc ! Kệ”. Bởi vậy nó trở thành một tình huống éo le, trớ trêu không biết nên mừng hay lo, buồn hay vui.

Xem thêm:  Phân tích bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của nhà văn G- Mác két

Sau sự khổ cực ấy là một chàng trai với tấm lòng hào hiệp thương người. Giữa nạn đói, miếng ăn quý biết nhường nào vậy mà Tràng sẵn lòng mở hầu bao để mời người phụ nữ xa lạ ăn một bữa bánh đúc dù chính anh cũng chẳng dư dả gì. Có lẽ Tràng đã nhìn thấy sự túng quẫn, sự đói khát của người phụ nữ ấy. Rồi khi người phụ nữ ấy sẵn sàng theo không Tràng về nhà, Tràng cũng sẵn lòng cưu mang chị ta. Cưu mang một người phụ nữ xa lạ, tự đèo bòng trong khốn khó đâu phải vì anh Tràng ngờ nghệch, ngốc nghếch. Anh thiện lương và giàu lòng thương người vô cùng.

Dù có thể anh hội tụ đủ yếu tố không tốt để có được hạnh phúc gia đình trọn vẹn nhưng sâu trong nhân vật vẫn là sự khao khát mãnh liệt về hạnh phúc lứa đôi. Và đặc biệt, ngay trong tình cảnh bi thảm, bị cái đói đẩy đến bên bờ vực sâu, Tràng vẫn âm thầm khao khát về một hạnh phúc lứa đôi. Lúc gặp lại người phụ nữ ở cổng chợ, sau khi mời chị ta ăn một bữa bánh đúc, Tràng cũng chỉ định nói một câu tầm phào cho vui “Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Nhưng không ngờ rằng thị theo Tràng về thật. Trước quyết định bất ngờ, táo bạo của người phụ nữ, thoạt đầu Tràng cảm thấu hơi chợn: “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng”. Nhưng nỗi lo sợ ấy thoáng qua rất nhanh và Tràng tặc lưỡi đánh liều: “Chậc, kệ!”. Quyết định lấy vợ có nghĩa là anh đã sẵn sàng bất chấp tất cả cái đói, cái chết để có được hạnh phúc lứa đôi.

Trên đường dẫn người vợ nhặt về nhà, Tràng sống trong tâm trạng vui sướng đến tột đỉnh. Niềm vui bỗng dưng có được vợ dường như không thể kìm nén nổi trong lòng mà cứ dâng trào, ngập tràn với tất cả những biểu hiện bên ngoài: mặt hắn thì phơ phớ khác thường, miệng cười tủm tỉm, hai con mắt sáng lên lấp lánh, tay nọ xoa vào tay kia một cách ngượng ngùng. Một cảm giác mới lạ chưa từng có ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ vào sống lưng… Niềm vui sướng ngập đầy trong tâm trí Tràng đến mức “hắn quên hết cảnh sống ê trề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát, tăm tối đang đến, quên cả tháng ngày trước mắt. Trong lòng hắn lúc này chỉ có tình nghĩa với người đàn bà đi bên cạnh.

Tuy chỉ là vợ nhặt, vợ theo nhưng Tràng vẫn rất trân tọng hạnh phúc của mình. Với người ngoài, anh đã có vợ một các dễ dàng, rẻ rúng. Nhưng có lẽ đối với Tràng, đó là ước mơ, khát vọng âm thầm bấy lâu. Tràng vào chợ mua hai xu dầu thắp sáng đêm tân hôn. Trước  con mắt tò mò của người dân xóm ngụ cư khi chứng kiến Tràng dẫn người đàn bà lạ mặt về xóm: “cái mặt anh ta cứ vênh vênh tự đắc”. Khi về tới nhà, Tràng sốt ruột, nóng lòng chờ đợi bà cụ Tứ, chờ phút giây được mẹ công nhận cho Tràng và người phụ nữ kia nên vợ nên chồng.

Sự kiện nhặt được vợ không chỉ mang đến cho Tràng niềm vui sướng tột cùng mà còn đánh thức trong tâm hồn người đàn ông tưởng như ngờ nghệch ấy bao tình cảm và suy nghĩ đáng quý. Đó là ý thức vun đắp cho gia đình, niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn. Sự thay đổi rõ rệt của Tràng là vào buổi sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, chứng kiến cảnh vợ dọn dẹp, thu vén vườn tược nhà cửa, phong quang sạch sẽ, Tràng vô cùng thấm thía và cảm động: “Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu và gắn bó với cái nhà của hắn đến lạ lùng…hắn thấy hắn có bổn phận phải lo cho vợ con sau này”.

Trong phần kết thúc truyện, tuy cuộc sống của gia đình Tràng vẫn chưa thoát khỏi đói khổ nhưng hìn hảnh đám người đi phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trong óc Tràng đã thể hiện niềm tin của nhân vật về một tương lai tươi sáng. Tuy chưa được giác ngộ cách mạng nhưng Tràng đã ý thức một cách mơ hồ rằng: không thể ngồi yên chờ chết. Con đường đấu tranh để giành quyền sống từ tay kẻ thù là con đường tất yếu của người dân lao động nghèo khổ. Nó đã trở thành nguồn sức mạnh và niềm tin hướng Tràng cùng biết bao người dân nghèo khổ khác vươn tới sự sống ,tin vào tương lai phía trước.

 Góp phần làm nên thành công bức tranh thảm khốc của nạn đói là tình cảnh người vợ nhặt. Trong tác phẩm của mình, Kim Lân không đi miêu tả thật nhiều về nhân vật người vợ nhặt. Thị cũng không có tên gọi cụ thể, khi thì gọi là thị, khi thì là cô ả, lúc là người đàn bà nhưng người vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm . Nhân vật này được khắc hoạ sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và về sau.Và ở thị, chúng ta thấy được những vẻ đẹp phẩm hạnh  đáng trân, đáng quý nhưng bị chìm khuất sau vẻ chao chát, chua ngoa, chỏng lỏn, xấu xí.

Trước khi nạn đói tràn về, thị là một người phụ nữ hết sức nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Nghe được câu hò của Tràng, thị liền vùng đứng dậy, lon ton đẩy xe cho Tràng. Không chỉ vậy, Thị còn liếc mắt cười tít đầy tình tứ khiến Tràng “thích lắm”. Trong lời nói thì tếu táo, vui đùa: “Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này nhà tôi ơi, nói thật hay khoác lác đấy?.. Đã thật thì thật chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ?” Có thể thấy, Thị cũng là một người vui vẻ, thích đùa và biết đùa.

 Thế nhưng sau khi nạn đói tràn về, từ ngoại hình đến hành động, lời nói của Thị đều có sự thay đổi. Dáng vẻ “rách quá”, “quần áo rách như tổ đỉa”, “thị gầy sọp hẳn đi”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ thấy hai con mắt”. Thị chịu tác động sâu sắc của nạn đói. Sự sống lúc này chỉ còn thoi thóp, leo lét như ngọn đèn trước gió. Thị tiêu biêu cho hình ảnh đau thương ấy, là nạn nhân của nạn đói khủng khiếp. Từ một cô gái có chút gì đó tình tứ, thích bông đùa thì nay thị trở nên đanh đá, chua chát, chỏng lỏn với những câu nói chống không. “Sầm sập chạy đến”, gợi ý được ăn, “sà xuống,cắm đầu ăn, chẳng trò chuyện gì,..” đầy thô tục. Người đàn bà bị cái đói làm cho mất cả lòng tự trọng, sự xấu hổ, ý thức về danh dự, tế nhị của một người phụ nữ. Người vợ trở thành “cái nợ đời”, trở thành gánh nặng để đèo bòng. Nạn đói như một cơn lũ lớn và bản năng sống mạnh hơn tất cả, lấn át cả danh dự. Để bảo toàn sự sống người ta sẵn sàng bám vào tất cả những gì có thể bám. Người vợ nhặt bám và câu bông đùa, vì bốn bát bánh đúc mà theo không Tràng về làm vợ. Như vậy, nạn đói không chỉ hủy hoại ngoại hình mà cả nhân cách. Thực sự giá trị của thị lúc này đã bị hạ thấp, rẻ rúng.

Xem thêm:  Phân tích Tính dân tộc trong tác phẩm văn học – Văn lớp 12

Nhưng ở thị, chúng ta còn thấy sự tự trọng và phẩm giá. Điều đó được thể hiện qua từ “sợ” được lặp lại hai lần trong lời nói. Lần thứ nhất “Đã thật thì đẩy chứ sợ gì”. Lúc này, thị hi vọng đẩy xe bò sẽ được ăn khi nạn đói chưa thực sự hoành hành, hi vọng của Thị khỏa lấp trong một câu bông đùa. Lần thứ hai “Ăn thì ăn chứ sợ gì” như một câu chữa ngượng mà thị nói với chính mình, để thêm sức mạnh cho mình. Tuy nhiên, thị còn biết “sợ” là còn biết xấu hổ, còn là “con người một cách tối thiểu” để không bị kéo tuột theo miếng ăn và cái đói. Hơn thế, thị còn biết chữa ngượng “Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”. Từ việc gợi ý được ăn, thị tỏ vẻ quan tâm, lo lắng cho Tràng theo phép lịch sự của người được mời ăn. Khi người ta biết ngượng và chữa ngượng nghĩa là người ta còn ý thức được về lòng tự trọng của mình.

Ở thị còn tồn tại bản năng sinh tồn mãnh liệt. Gặp Tràng có một bận mà thị đã nhớ để hôm sau gặp lại thị “sầm sập” chạy đến như bám lấy phao cứu sinh. Thị gợi ý được ăn với mục đích đầu tiên là chống lại cái đói, duy trì sự sống. Chính bản năng sinh tồn mãnh liệt khiến người đàn bà này vượt lên phẩm giá, lễ giáo để theo không một người đàn ông xa lạ về làm vợ, để được sống. Chính thị là hiện thân của sự sống diệu kì. Sự sống không bao giờ chán nản, nó vươn lên trên mọi sự hủy diệt, bóng tối và cái chết. Hành động của thị chính là hành động bám víu, bám riết vào sự sống.

 Thị cũng là người đàn bà rất mực tình nghĩa. Ban đầu thị cứ chao chát, trơ trẽn, bám riết lấy chàng chỉ vì đói. Nhìn thấy túp lều đứng rúm ró trong mảnh vườn lổn nhổn những bụi cỏ dại chị ta “nén một tiếng thở dài”. Ẩn trong tiếng thở dài ấy có một chút thất vọng. Nhưng ẩn chứa cả niềm xúc động vì những con người nghèo khổ như thế họ vẫn sẵn sàng mở rộng lòng cưu mang mình bằng tấm lòng nhân hậu. Mục đích ban đầu là trốn cái đói, kiếm miếng ăn. Nhưng đến cổng nhà Tràng cái thị tìm thì không có, cái thị muốn trốn tránh thì hiện ra rõ ràng. Thị hoàn toàn có thể quay gót bỏ đi bởi thị theo Tràng cũng chỉ bởi một câu bông đùa, thị hoàn toàn có thể biến câu nói đùa thành thật, thật thành đùa. Đến với những con người nhân hậu ấy, thị đã tìm thấy cái thị không định tìm. Đó là “tình người”. Chính điều đó đã níu giữ bước chân thị, giúp thị bước qua cổng nhà Tràng. Như vậy, sâu thẳm trong người đàn bà ấy là khao khát tình người, khao khát hạnh phúc. Chi tiết thị điềm nhiên và miếng cháo cám vào miệng cũng gợi mở ra trong ta bao suy nghĩ về thị- một người tình nghĩa. Dường như hiểu được nỗi khổ của người mẹ già cố gắng bao nhiêu dào trước đón sau, cố vơi đi nỗi tủi hổ trong lòng các con. Mặc dù thị phát hiện ra ngay đây là bát cháo cám, hai con mắt đã tối lại ít nhiều sự chua xót, thất vọng nhưng Thị vẫn điềm nhiên. Đó là sự dũng cảm, sẻ chia của con người biết trân trọng tình nghĩa, không lỡ làm đau thêm, tủi thêm tấm lòng nhân hậu của người mẹ kia. Đây cũng là hành động thể hiện sự chấp nhận cuộc sống lâu dài trong gia đình Tràng. Hành động đó là thông điệp mà Thị lặng lẽ gửi đến mẹ con Tràng: Từ nay, thị cũng sẽ là một thành viên trong gia đình này và cùng đồng cam cộng khổ với gia đình Tràng.

Trên đường theo Tràng về nhà, thị đi cách Tràng mấy bước, cái nón rách tàng che nửa mặt. Khi về nhà, Tràng bảo đến hai lần Thị mới ngồi mớm mép giường. Đứng trước mẹ chồng Thị e sợ, ngại ngùng và lúng túng. Những hành động của Thị giống như hành động của bao cô gái bình thường khác khi về nhà chồng. Sáng hôm sau, Thị xông xáo quét dọn, vun vén cho tổ ấm của mình. Lúc này, thị đã trở thành một người vợ thực thụ, người phụ nữu hiền hậu và đúng mực. Cách ứng xử của người vợ nhặt qua lời kể của Kim Lân trong bữa cơm đón nàng dâu mới đã cho thấy thị hết mực nâng niu, trân trọng hạnh phúc đang có.

Vợ nhặt được ngòi bút tinh tế của nhà văn xây dựng bằng những trải nghiệm, những hiểu biết phong phú. Kim Lân hướng ngòi bút của mình vào từng nhân vật để thấu hiểu mỗi nhân vật. Xây dựng một tình huống truyện độc đáo, một cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật chân thực, sâu sắc…Kim Lân đã đem đến cho bạn đọc những giá trị, những bài học đắt giá về sự sống và tình thương. Trong cuộc sống đói nghèo, lay lắt ấy, con người vẫn luôn ngập tràn hi vọng và tin tưởng. Và càng trong nghịch cảnh, mỗi người lại càng thêm trân trọng, gìn giữ ngọn lửa hạnh phúc dù nó nhỏ nhoi, lay lắt.

Tình thương chính là yếu tố cốt lõi làm cho cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn. Trong khốn cùng của đói khổ, hành động, nghĩa cử cao đẹp của bà cụ Tứ, của Tràng càng làm ta thêm trân trọng, thêm tin tưởng vào nhân cách cao đẹp của con người. Có lẽ chính tình thương nhỏ nhoi mà ấm áp ấy đã trở thành thứ “mê dược” làm bạn đọc say lòng trước mỗi câu chữ của Kim Lân. Vợ nhặt đã cho thấy giá trị biểu hiện to lớn của nó trong nền văn học. Và dẫu bao nhiêu năm sau thì giá trị ấy vẫn sáng mãi.

Nguyễn Thị Thu Trang

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment