[Văn mẫu học sinh] Phát biểu cảm nghĩ về những câu hát than thân

[Văn mẫu học sinh] Phát biểu cảm nghĩ về những câu hát than thân

[Văn mẫu học sinh] Phát biểu cảm nghĩ về những câu hát than thân

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

– Ca dao tục ngữ vô cùng quý giá, như một món ăn tinh thần, như một bài học giúp ta trong cuộc sống. Trong số các ca dao tục ngữ thì những câu hát than thân được chú ý quan tâm

– Giới thiệu về những câu hát than thân : Những nỗi niềm ấy đã được thể hiện sâu sắc qua chùm ca dao than thân

2. Thân bài

* Bài 1:

-Một mình kiếm ăn nơi: Nước non, ghềnh thác

– Vẫn không đủ miếng ăn khi: bể cạn, ao đầy

– Thác, ghềnh là nơi đá chắn ngang, nước chảy xiết -> Kiếm ăn nơi đó thật khó khan, nguy hiểm

-> Cuộc kiếm ăn của cò luôn gặp khó khan, nguy hiểm

– Biện pháp ẩn dụ: nói cuộc sống gian khổ của cò để ám chỉ thân phận cơ cực của người nông dân trong xã hội

* Bài 2:

-Môtíp “Thương thay” -> Tỏ thái độ trực tiếp, rõ rang, đồng thời cũng là lời xót thương

– Tằm suốt đời chỉ ăn lá dâu, cuối đời phải rút ruột tận cùng để làm thành tơ quý cho người -> hi sinh nhiều, hưởng thụ ít

– Kiến : kiếm sống triền mien, vất vả nhưng lại hưởng thụ rất ít ỏi

– Hình ảnh “Hạc” trong câu ca này biểu thị cho cuộc đời phiêu bạt , vô định và những cố gắng tuyetj vọng của người lao động trong xã hội

– Con cuốc giữa trời gợi hình ảnh một con vật nhỏ nhoi, cô độc giữa không gian rộng lớn vô tận

-> Những hình ảnh ẩn dụ này càng tô thêm sự lẻ loi, cô độc, bất lực của con người, đặc biệt là tầng lớp nông dân trong xã hội

* Bài 3:

– Nghệ thuật so sánh: Thân em- trái bần

-> Thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ rất bé nhỏ, chìm nổi, trôi dạt vô định giữa song gió cuộc đời

3. Kết bài

-Ý nghĩa bài những câu hát than thân:

+ Lên án , tố cáo xã hội phong kiến

+Đòi hỏi số phận của người phụ nữ và giai cấp nông dân.

[Văn mẫu học sinh] Phát biểu cảm nghĩ về những câu hát than thân

Phát biểu cảm nghĩ về những câu hát than thân

Bài làm tham khảo

Ca dao tục ngữ như một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người Việt Nam. Đó là một kho tang vô cùng quý giá, như một món ăn tinh thần, như một bài học giúp ta trong cuộc sống. Kho tang ấy không chỉ mang tình cảm lãng mạn của tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình mà còn mang những nỗi đắng cay chua xót của bao số phận con người. Những nỗi niềm ấy đã được thể hiện sâu sắc qua chùm ca dao than thân.

Dưới chế độ phong kiến, nhân dân ta bị áp bức rất nặng nề. Người nông dân nói chung và người phụ nữ nói riêng tuy lao động cực nhọc mà vẫn cơ hàn đói kém:

Nước non lận đận một mình

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay

Ai làm cho bể kia đầy

Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?

Một mình cò kiếm ăn nơi nước non, ghềnh thác nhưng vẫn không đủ miếng ăn khi: bể cạn, ao đầy.Thác, ghềnh là nơi đá chắn ngang, nước chảy xiết cho ta thấy cuộc kiếm ăn của của cò thật khó khăn, nguy hiểm, ngang trái.

Dân gian đã phát hiện những điểm tương đông giữa cò- con vật gần gũi, thân quen với người nông dân lam lũ, nhỏ bé, đơn độc, cặm cụi làm ăn nhưng cuộc sống vẫn khó nhọc. Do vậy biện pháp ẩn dụ dùng thân cò để biểu thị cho người nông dân vừa chính xác, vừa dễ hiểu lại sinh động. Hai thế hệ, hai kiếp người đau khổ. Người đàn bà nhà quê sống lẻ loi một mình quanh năm côi cút làm ăn toan lo nghèo khó, vất vả giữa cuộc đời. Suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà vẫn cơm không đủ ăn áo không đủ mặc.

Vẫn theo mạch liên tưởng giống như ở bài ca dao thứ nhất, bài ca dao thứ hai là một ẩn dụ so sánh giữa thân phận của người nông dân với những loài vật bé nhỏ, tầm thường như con tằm, con kiến:

Thương thay thân phận con tằm,

Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.

Thương thay lũ kiến li ti,

Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.

Thương thay hạc lánh đường mây,

Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.

Thương thay con cuốc giữa trời,

Dầu kêu ra máu có người nào nghe.

“Con tằm” và “lũ kiến” là hai ẩn dụ nói về những thân phận “nhỏ bé” sống âm thầm dưới đáy xã hội cũ. Thật đáng “thương thay”, thương xót cho những kiếp người phải làm đầu tắt mặt tối mà chẳng được ăn, được hưởng một tí gì! Khác nào một kiếp tằm, một kiếp kiến !

Hình ảnh cánh chim, con hạc, con cuốc là những hình ảnh vô cùng quen thuộc trong ca dao, có lẽ những người nông dân lao động tìm thấy sự đồng điệu giữa hình ảnh gầy guộc, lầm lũi của con vật với chính bản thân mình. Những chú chim mải miết bay đi tìm ăn, bay đến mỏi cánh mà không biết ngày nào sẽ kết thúc cuộc hành trình ấy, cũng giống như cuộc đời phiêu bạt lận đận của những người dân lao động. Những con người bé nhỏ ấy phải cố gắng kiếm sống ngày qua ngày mà không biết khi nào cuộc sống ấy mới chấm dứt, không biết bao giờ mới hết đói hết khổ.

Điệp ngữ “Thương thay” ngân lên nghe thật đau xót biết mấy. Nó tỏ thái độ trực tiếp, rõ rang đối với đối tượng nhưng cũng chính là sự suy ngẫm và than thở về chính bản thân mình.

Bài ca dao thứ ba phản ánh thân phận khốn khổ của người phụ nữ nông thôn trong xã hội cũ:

Thân em như trái bần trôi,

Gió dập sóng dồi, biết tấp vào đâu?

Hình ảnh so sánh trong bài có nét đặc biệt mang tính chất địa phương của một vùng sông nước miền Nam. Tên gọi của trái bần gợi sự liên tưởng đến thân phận người nghèo. Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh trái bần, trái mụ u, trái sầu riêng thường gợi đến những cuộc đời đầy đau khổ, đắng cay.Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia có khác gì trái bần nhỏ bé liên tiếp bị gió dập sóng dồi. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào hoàn cảnh, không có quyền tự mình quyết định cuộc đời. Xã hội phong kiến luôn muôn nhấn chìm họ, phủ nhận vai trò của họ.

Cả ba bài ca dao trên đều xoay quanh nội dung than thân trách phận. Cuộc đời của người nông dân nghèo khổ xưa là một bể khổ mênh mông không bờ không bến. Hiện thực thì tăm tối, tương lai thì mù mịt, họ chẳng biết đi về đâu. Những bài ca dao ấy không chỉ đơn thuần là lời than thân, trách phận của những con người bé nhỏ mà đồng thời còn là lời tố cáo xã hội phong kiến tàn ác đã chà đạp lên quyền tự do, quyền sống, quyền được hạnh phúc của con người.

Phan Thị Huyền Trang

Đánh giá bài viết



DMCA.com Protection Status